Tóm tắt: Giới thiệu khái lược ý nghĩa vị trí Đoạn 1- Khai sáng càn khôn, tác thành vũ trụ trong tổng thành di sản Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1613-1678) từ cội nguồn kinh Sáng thế (Cựu ước). Xác định nhu cầu sáng tác diễn ca, truyền ca, truyền bản, truyền bá, lan toả Kinh Thánh gắn với công cuộc truyền đạo trong bối cảnh lịch sử, xã hội thế kỷ 17. Phân tích một số phương diện nội dung và nghệ thuật truyền ca – diễn ca từ cội nguồn kinh Sáng thế (Cựu ước) tới Đoạn 1 với 50 câu thơ lục bát (không kể 8 câu thuộc phần Vào đề). Nhận diện một vài đặc điểm về văn bản và quá trình truyền bản Sấm truyền ca từ thực tế 50 câu thơ mở đầu. Đúc kết giá trị Đoạn 1 và tác phẩm Sấm truyền ca từ góc độ di sản sáng tác chữ Nôm, loại hình văn học Nôm và thể thơ lục bát.
Từ khoá: Lữ Y Đoan, Sấm truyền ca, thơ Nôm, lục bát.
*
Tác phẩm Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1613-1678) chính là truyện thơ lục bát diễn Kôm Kinh Thánh đạo Thiên Chúa ra tiếng Việt và là tác phẩm Nôm cổ xưa (1670), ra đời trước cả tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễ Du (1765-1820) thuộc giai đoạn cuối nhà Hậu Lê – nhà Tây Sơn và đầu triều Nguyễn). Sấm truyền ca là bản diễn dịch của bộ Ngũ Thư của Kinh Thánh Cựu ước và là tác phẩm truyện thơ Nôm cổ xưa có giá trị trên tất cả các phương diện lịch sử, tư tưởng tôn giáo, văn hoá, văn học…
Trong thời gian tình nguyện làm thầy giảng buổi sơ khai Công giáo ở Đàng Trong, Lữ Y Đoan đã viết nhiều tập thơ truyền bá, phổ cập về giáo lý và trong số đó có bản Sấm truyền ca. Đó là một kỳ công của người viết với ước nguyện được đưa Kinh Thánh đến với mọi người, mọi nhà, mọi tầng lớp trong xã hội của thế kỷ XVII và giúp cho giáo dân dễ nghe, dễ thuộc, dễ hiểu và trước sau cũng thể hiện được nội dung chính của bản Sấm truyền ca. Ngay cả hạng văn nho thời ấy cũng mến phục và thích đọc tác phẩm này, cũng có một số người tri thức đã xin theo Công giáo. Bản Sấm truyền ca không những nói lên sự dày công của Linh mục Lữ Y Đoan khi trình bày nội dung của các sách Ngũ Thư (Cựu ước )với sự bình dị và mang đậm chất Việt và còn gợi lên trong lòng người đọc một tình yêu và lòng tận hiến vô bờ bến của Ngài thì mới có thể làm nên một tác phẩm đặc sắc như vậy. Đây là một tác phẩm vô cùng giá trị được giữ gìn qua nhiều thế kỷ (tính đến năm 2024 này là đã qua 354 năm) và tiếp tục phát huy, đặc biệt là được xem như di sản văn học dân tộc về nhiều mặt đặc biệt về ngôn ngữ, về thể loại thơ nôm và cả bản chuyển sang chữ Quốc ngữ và bản “Sấm truyền” này là tác phẩm rất tuyệt vời vì vừa là một bản dịch Kinh Thánh vừa là truyện thơ Nôm có nội dung văn học nước ngoài, văn học phương Tây, vượt ra ngoài quỹ đạo khu vực Đông Á và phương Đông truyền thống.
Ngay cả khi chưa tìm lại được toàn văn Sấm truyền ca (nguyên chữ Nôm 1670 – 1820 cũng như bản phiên âm Quốc ngữ)[1], chỉ riêng phần hiện còn cũng thật đồ sộ với dung lượng 5226 câu thơ lục bát, dài hơn Truyện Kiều (3254 câu) của thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820) tới 2072 câu thơ. Chính vì vậy chúng tôi lượng sức chỉ tập trung so sánh, đối chiếu và phân tích 58 câu thơ mở đầu Sấm truyền ca tương đương với đoạn mở đầu Kinh Thánh khải huyền về sáu ngày đầu tiên Thiên Chúa khai sáng thế giới và con người. Sơ lược nội dung của Kinh Thánh được mô tả gồm: “Sự sáng tạo trời và đất” (1, 2) và “Sáu ngày chuẩn bị trái đất” (3-31), cụ thể bao gồm: Ngày 1: Ánh sáng; ngày và đêm (3-5); Ngày 2: Khoảng không (6-8); Ngày 3: Đất cạn và cây cỏ (9-13); Ngày 4: Các vì sáng trên trời (14-19); Ngày 5: Cá và chim (20-23); Ngày 6: Động vật trên cạn và con người (24-31)[2]…
Trước hết, tuân theo thứ tự sáu ngày khai sáng trong Kinh Thánh thì Sấm truyền ca cũng tuân thủ theo và kể rõ theo thứ tự sáu ngày khai sáng. Rõ ràng tám câu “Vào đề” xem như lời giới thiệu của tác giả Lữ Y Đoan, có ý nghĩa bao quát tư tưởng chủ đạo và tóm tắt toàn bộ nội dung tác phẩm. Lữ Y Đoan với tám câu “Vào đề” đặt trước Đoạn 1 của Tạo đoan kinh (Genesia) đã nhắc đến hai điều “Đạo – Đời” cơ bản và quan trọng nhất của con người:
Ngày ngày trước mắt chúng sinh,
Chữ đời, chữ đạo phân minh đôi đường.
(c. 001-002)
Nhận thức được sự thay đổi mau chóng ở đời “vân cẩu, nhơn phàm” và sự vô thường của kiếp người, không thể nắm bắt:
Xưa nay trong kiếp vô thường,
Thấy điều vân cẩu mà thương nhơn phàm.
Loài người từ thuở A-dang,
Đua nhau xây dựng “mộng ham làm trời”.
Một pho cổ sấm ra đời,
Chứng minh vạn đại những lời do thiên.
(c. 003-008)
Từ thuở ban đầu, khi con người vừa xuất hiện (người đầu tiên là A-dang) và cho đến những kiếp người nối tiếp nhau đều nuôi mộng làm trời cho đến khi cổ sấm ra đời thì mới thấu hiểu vạn đại những lời do thiên.
Toàn bộ phần mở đầu “Tạo đoan kinh” trong Sấm truyền ca có tròn 50 câu thơ lục bát (số 9-58). Việc tìm hiểu ý nghĩa vị trí Đoạn 1- Khai sáng càn khôn, tác thành vũ trụ thuộc phần “Tạo đoan kinh” trong tổng thành di sản Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan từ cội nguồn kinh Sáng thế (Cựu ước) chỉ là sự thám sát bước đầu trên các phương diện nhu cầu và đặc điểm diễn ca, tương quan định lượng tác phẩm diễn Nôm và nguyên tác, nghệ thuật chuyển dịch và khả năng xử lý từ ngữ trong thể thơ lục bát, yêu cầu tôn trọng tinh thần nguyên tác và khả năng sáng tạo, Việt hoá sao cho phù hợp với tâm lý độc giả người Việt, giáo dân người Việt và truyền thống văn hoá Việt.
Xét về cấu trúc, mở đầu Kinh Thánh có sáu đoạn, chia theo sáu ngày và đến bản diễn Nôm Sấm truyền ca đều có đoạn tương ứng (4-12 câu thơ).
Kết thúc đoạn đầu Kinh Thánh “Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất” thì Sấm truyền ca cũng diễn thành hai câu lục bát:
Hoàng hôn chuyển tiếp minh sơ,
Chu kỳ thứ nhứt, thiên cơ ứng hà.
Kết thúc đoạn hai Kinh Thánh “Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai” thì Sấm truyền ca diễn gọn trong một câu lục bát:
Chiều đi mai đến tiếp liên chu kỳ
Ở đây Lữ Y Đoan không nói cụ thể đến ngày “thứ nhì” (hoặc “thứ hai”) mà sau khi biểu đạt nội dung “Chiều mai đi đến” rồi “tiếp liên chu kỳ” vừa có ý nghĩa chuyển đoạn vừa nhấn mạnh sự kết thúc “chu kỳ” của ngày thứ hai. Rất có thể vì quy luật vần điệu thể thơ lục bát nên Lữ Y Đoan không thể đưa thêm các chữ “thứ nhì”, “thứ hai” mà sáng tạo cách nói đủ để ghi dấu một sự chuyển đoạn, kết thúc ngày thứ hai.
Kết thúc đoạn ba Kinh Thánh “Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba” thì Sấm truyền ca diễn lại gọn trong một câu lục bát, bao quát được cả sáng – chiều và định danh thời gian (ngày):
Chu kỳ chiều sáng giai tầng thứ ba.
Kết thúc đoạn tư Kinh Thánh “Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư” thì Sấm truyền ca diễn thành:
Chu kỳ thứ bốn, chiều hôm lại ngày.
Điều đặc biệt ở câu này là lữ Y Đoan lại chuyển sự định danh ngày lên trước và diễn tả nội dung “Qua một buổi chiều và một buổi sáng” (chiều hôm lại ngày) về phía sau, phía cuối câu thơ. Có thể xem đây cũng là một cách diễn dịch khéo của Lữ Y Đoan, vừa giữ được vần điệu thơ vừa không lặp lại lối mòn, góp phần tạo nên biến tấu mới lạ, khác lạ, sinh động.
Kết thúc đoạn năm Kinh Thánh “Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm” thì Sấm truyền ca diễn thành hai câu thơ:
Chu kỳ chiều đến sáng ra,
Hoàn thành nhi tiến kể là thứ năm.
(c. 043-044)
Ở đây Lữ Y Đoan tiếp tục có sự sáng tạo với việc luân chuyển chữ “Chu kỳ” vốn thường ở câu sau (bát) lên vị trí mở đầu câu thơ (lục) và thêm vào bốn chữ “Hoàn thành nhi tiến” thuộc về độ dư ngữ nghĩa cho phép, vừa nhấn mạnh được ý thơ vừa gia tăng được độ luyến láy, điệu thơ, chất thơ.
Kết thúc đoạn sáu Kinh Thánh “Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu” thì Sấm truyền ca diễn thành:
Buổi chiều, buổi sáng cuối cùng,
Chu kỳ thứ sáu cáo chung tạo trình.
(c. 057-058)
Điều đáng chú ý là đoạn văn này có ý nghĩa chung cục cho tuần lễ sáu ngày sáng thế cho nên Lữ Y Đoan chủ ý nối thêm các chữ “cuối cùng” và “cáo chung tạo-trình” hàm ý chỉ sự kết thúc, hoàn tất một tuần, một quá trình, một chặng khởi đầu có ý nghĩa quyết định sự ra đời của vũ trụ, thế giới, con người, vạn vật. So trong sáu đoạn mở đầu Kinh Thánh thì đây đúng là đoạn dài nhất, chiếm 14 câu thơ (dung lượng số câu thơ theo thứ tự sáu ngày là: 12 – 4 – 6 – 8 – 6 – 14), có ý nghĩa tổng thành, tổng kết, chung cục cho giai đoạn khởi đầu sáng thế.
Quan sát trên phương diện định lượng hình thức thì thấy Lữ Y Đoan khi diễn Nôm đã theo sát nguyên văn Kinh Thánh và nhấn mạnh công việc sáng thế tuần tự theo từng ngày, từ ngày khởi đầu đến ngày thứ sáu. Từ đây có thể đi sâu khai thác, tìm hiểu một vài đặc điểm nghệ thuật diễn Nôm thi phẩm Sấm truyền ca so với nguyên tác.
Từ ngàn đời xa xưa, con người đã biết lấy một số cốt truyện từ thực tiễn mang tính hư cấu (thần tích, cổ tích, Phật thoại…) hoặc là những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ đúc kết từ những kinh nghiệm sống trong sinh hoạt hằng ngày như một phương thức giúp con người sống thiện lành hơn, sống đúng đạo làm người! Kinh Thánh là nguồn gốc của sự khai sáng về tư tưởng nhân văn, triết học và thần học và truyền cảm hứng cho sự ra đời của bản Sấm truyền ca thể hiện phương thức truyền bản, truyền bá, lan toả Kinh Thánh đến với người Việt đương thời. Sấm truyền ca không chỉ giúp người đương thời dễ hiểu, dễ học, dễ thuộc Kinh Thánh mà còn mang một ý nghĩa giá trị về mặt tinh thần giúp con người sống “Tốt đời đẹp đạo”. Riêng ý câu mở đầu văn bản Kinh Thánh “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất” được Lữ Y Đoan diễn thành hai câu lục bát mở đầu Sấm truyền ca:
Hằng sinh Thượng đế đại quyền,
Tự không sáng tạo, phán truyền hoằng khai.
(c. 009-010)
Hai câu thơ toát yếu tinh thần câu mở đầu Kinh Thánh và nhấn mạnh sắc thái Thượng Đế là “Hằng sinh” (vĩnh hằng, vốn là như thế, trên hết, trước hết muôn loài) và khẳng định tầm vóc sức mạnh “đại quyền” (quyền lớn lao, bao quát, bao trùm, toàn năng”. Tiếp đến ý “Tự không sáng tạo” diễn giải tương đương với “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo…” thì ý tiếp theo “phán truyền hoằng khai” lại không nhằm đến hình tượng sáng tạo cụ thể “trời đất” mà chỉ nêu xu thế “hoằng khai” có ý nghĩa chung hơn, khái quát hơn.
Có điều cần chú ý là ở đoạn này, nguyên văn trong Kinh Thánh: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất… Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước… Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng”. Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất” (Annê V.A.T nhấn mạnh), thấy xuất hiện tới 6 lần danh xưng đấng tối cao “Thiên Chúa” nhưng lại không một lần xuất hiện trong Sấm truyền ca, chỉ có hai lần chuyển thành danh xưng tương đương là “Thượng đế” và “Ngự”:
Hằng sinh Thượng-đế đại quyền,
Tự không sáng tạo, phán truyền hoằng khai:
Càn khôn bỗng chúc phôi thai,
Hư hư hàn vũ, dày dày u minh.
Thánh-thần sinh hoá vận trình,
Đột nhiên quang ánh lộ hình khắp nơi.
Ngự khen trong sáng tuyệt vời,
Liền phân lưỡng vực muôn đời đối nhau:
Gọi ngày, dương khí làu làu,
Gọi đêm, âm khí phủ bao mịt mờ.
Hoàng hôn chuyển tiếp minh sơ,
Chu kỳ thứ nhứt, thiên cơ ứng hành.
(c. 009-020)
Rõ ràng là danh xưng “Thượng đế” cũng được hiểu là “Đấng tối cao” nhưng mang tính chất chung chung hơn, bao quát hơn và được nhiều tôn giáo sử dụng. Còn danh xưng “Ngự” (Ngự khen – Ngài khen) là cách nói tôn vinh, trang trọng nhưng là vai đóng thế, thay thế. Ngay cả những điều này ít nhiều cũng làm giảm mức độ thánh linh, chuẩn mực, toàn tòng, thuần khiết của tinh thần Kitô giáo trong Kinh Thánh, khiến cho nhiều cố đạo Tây không thật hiểu, dẫn đến thái độ lãnh đạm, xem thường bản diễn ca. Linh mục Trăng Thập Tự nhấn mạnh thực tế lịch sử những khó khăn của quá trình chuyển ngữ như một “Thách đố của hội nhập văn hoá” và tiếp nhận tác phẩm diễn Nôm: “Sấm truyền ca đã Việt hoá các tên người, tên đất trong Kinh Thánh (mượn âm ngụ ý) và đã trình bày nội dung các sách Ngũ Thư với phong cách hết sức Việt Nam. Giáo dân rất thích những có lẽ các giáo sĩ phương Tây ngại rằng nó không sát bản văn Kinh Thánh nên không ủng hộ, tác phẩm chỉ được chép tay chứ không được in ra. Nguyên bản chữ Nôm hiện chưa tìm thấy”[3]…
Đặc điểm giản lược và chuyển đổi danh xưng này cũng diễn ra ở các đoạn sau liên quan tới 6 ngày sáng thế, trải dài suốt 50 câu thơ. Xét trên toàn thể 50 câu thơ, ngoại trừ hai trường hợp trên diễn ra ngay ở khổ thơ đầu 12 câu thơ (câu 9-20), có nghĩa ngay cả danh xưng tương đương “Thiên Chúa” (Thượng đế, Ngự) cũng không một lần xuất hiện lại. Thay vào đó là “Chủ ngữ ẩn” gắn với các từ (chủ yếu là động từ) chỉ định hướng hoạt động của chủ thể Thiên Chúa. Xem tiếp nguyên văn Kinh Thánh về ngày sáng thế thứ hai: “Thiên Chúa phán: “Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước”. Thiên Chúa làm ra cái vòm đó và phân rẽ nước phía dưới vòm với nước phía trên. Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là “trời”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai” (Annê V.A.T nhấn mạnh), thì trong Sấm truyền ca chỉ là:
Không gian phát động mở màn,
Thuỷ hành nhị khí đành rành dưới trên.
Trên thì danh gọi “cao thiên”,
Chiều đi mai đến tiếp liên chu kỳ.
(c. 021-024)
Đối với người Việt, hiện tượng thiếu vắng danh xưng chủ ngữ (chủ ngữ ẩn) hầu như không ảnh hưởng nhiều đến sự cảm nhận về một đấng “Thiên Chúa” – “Thượng đế” – “Ngự” trên cao xanh đã khai mở không gian, khai sáng con người, núi sông, vạn vật. Hơn nữa, sự xuất hiện những “Thượng đế” – “Ngự” (tương đương “Thiên Chúa”) ngay từ câu thơ đầu tiên, những dòng thơ đầu tiên và ngày đầu tiên đã xác lập tâm thế tiếp nhận chuẩn mực, ổn định, không thể sai khác.
Cách thức diễn Nôm các ngày thứ ba đến thứ năm cũng tương tự. Cho đến ngày khải dựng, làm việc thứ sáu, Kinh Thánh chép: “Thiên Chúa phán: “Đất phải sinh ra các sinh vật tuỳ theo loại: gia súc, loài bò sát và dã thú tuỳ theo loại”. Liền có như vậy. Thiên Chúa làm ra dã thú tuỳ theo loại, gia súc tuỳ theo loại và loài bò sát dưới đất tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp… Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất”… Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ… Thiên Chúa ban phúc lành cho họ và Thiên Chúa phán với họ: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực. Liền có như vậy”… Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu” (Annê V.A.T nhấn mạnh)…
Chuyển sang bản diễn Nôm Sấm truyền ca vẫn chỉ là:
Mọi loài thú vật hiện thân,
Trùng trùng điệp điệp, sơn lâm đồng bằng.
Thú to, thú nhỏ, lan tràn,
Sắc thanh phong phú, tài năng dồi dào.
Đất trời vạn vật đủ màu,
Phải làm nên vật tài cao điều hành.
Chiếu theo thần ảnh tác thành,
Tinh hoa đúc kết hoá sanh “con người”.
Một nam, một nữ chào đời,
Truyền sinh miêu duệ khắp nơi địa cầu.
Chủ nhơn vạn vật quờn trao.
Thú, cầm, ngư, thảo gồm thâu xử dùng.
Buổi chiều, buổi sáng cuối cùng,
Chu kỳ thứ sáu cáo chung tạo-trình.
(c. 045-058)
Như vậy, ngày thứ sáu trong Kinh Thánh có tới 12 lần xuất hiện danh xưng “Thiên Chúa” thì đến Sấm truyền ca gồm 14 câu thơ (số 45-58) vẫn là chủ ngữ ẩn gắn với kiểu động từ chỉ sự ra đời, xuất hiện, sinh thành, tác thành và được liệt kê theo đủ các loại người và vạn vật.
Tìm hiểu qua 50 câu thơ mở đầu Sấm truyền ca cho thấy Linh mục Lữ Y Đoan vừa vận dụng, châm chước theo đặc trưng nghệ thuật thể thơ lục bát, vừa bảo đảm trung thành tối đa với nội dung Kinh Thánh, từ đó sáng tạo truyện thơ phù hợp với nếp cảm nếp nghĩ của giáo dân và cộng đồng người Việt nói chung. Xác định chủ đích truyền bá, lan toả Sấm truyền ca đến với cộng đồng, nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh khẳng định rằng: “Sấm truyền ca là một tác phẩm văn học đặc sắc vì phản ánh nỗ lực Việt Nam hóa và bình dân hóa kinh thánh bằng cách mượn yếu tố văn hóa Việt Nam và Đông Phương để diễn dịch kinh thánh”[4]. Gần đây, nhà nghiên cứu Nguyễn Công Thuấn đi sâu phân tích, hệ thống hoá tổng thể các vấn đề dịch thuật, cách dịch, cách dùng từ Hán Việt và thuần Việt, cách Việt hoá tên người, địa danh, dịch với diễn ca bằng ngôn ngữ hiện đại; đồng thời xác định các phương diện nội dung giá trị tư tưởng và văn chương, đồng thời đi đến đúc kết: “Sấm truyền ca vừa là một bản dịch Kinh Thánh, vừa là một truyện thơ Nôm, tức là một truyện thơ Nôm có nội dụng văn học nước ngoài. Điều này sau đó ta cũng gặp trong Đoạn trường tân thanh, Lục Vân Tiên… Những truyện thơ Nôm này mượn cốt truyện Trung Quốc, chịu ảnh hưởng tư tưởng và thi pháp văn học Trung Quốc. Trái lại Sấm truyền ca mang đến những điều mới mẻ cho văn học Việt. Đó là tư tưởng Thần học, triết học Kitô giáo cùng với những truyền thống văn hóa phương tây. Sấm truyền ca còn mở ra việc tiếp nhận văn học, văn hóa nước ngoài trên nền tảng tâm thức Việt. Xin lưu ý, văn học Việt thời đó đã dung nạp tư tưởng Phật, Nho, Lão (tam giáo đồng nguyên) làm nền tảng tư tưởng của mình”[5].
Với 50 câu thơ mở đầu tác phẩm truyện thơ Sấm truyền ca, Linh mục Lữ Y Đoan trước hết phải thông hiểu toàn bộ hệ thống từ vựng và nội dung Kinh thánh, từ đó chấp nhận giản lược một số từ ngữ có tính khái niệm chuẩn tư tưởng tinh thần Công giáo, đồng thời thực hiện giản lược, tương nhượng với hệ thống từ vựng tiếng Việt và luật thơ lục bát để sáng tạo nên truyện thơ Nôm mang tính độc lập, có sắc thái riêng, dễ nhớ dễ thuộc và dễ lan toả trong cộng đồng người Việt. Những đặc điểm nổi bật nhất là việc tuân thủ theo cấu trúc sáu ngày, việc thay danh xưngThiên Chúa bằng chủ ngữ ẩn giúp cho câu thơ lục bát trở nên thanh thoát, đáp ứng vần điệu, âm điệu, thể thơ. Có thể coi 50 câu thơ mở đầu này như một bài tập mẫu, tạo đà cảm hứng và phong cách nghệ thuật cho toàn bộ tác phẩm, đồng thời có ý nghĩa khơi dòng, tiên phong cho truyền thống thơ Nôm trường thiên và dòng truyện thơ Nôm Việt Nam qua suốt thời trung đại.
[1] Văn bản Sấm truyền ca dựa theo cột D “Tạo đoan kinh – Bản phục chế đề nghị” do Lm. Trăng Thập Tự soạn. Tài liệu của Giáo phận Quy Nhơn, 2023, 496 trang. Các trích dẫn Sấm truyền ca trong bài đều theo tài liệu này.
[2] Bản dịch Kinh Thánh dựa theo cột A “Sách Sáng thế bản dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ” của Lm. Trăng Thập Tự. Tài liệu của Giáo phận Quy Nhơn, 2023, 496 trang. Các trích dẫn Kinh Thánh trong bài đều theo tài liệu này.
[3] Lm. Trăng Thập Tự (2020), “Lời nói đầu của Tủ sách Nước Mặn”, Sấm truyền ca (Lữ Y Đoan – Bản Nguyễn Văn Nhạn). Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.12.
[4] Nguyễn Vy Khanh (?), Tiếng Việt và một số tác phẩm mới phát hiện. Nguồn: http://vietsciences.free.fr/vietnam/tiengviet/tiengvietvamotsotacphammoi.htm… Cập nhật ngày 12/7/2024.
[5] Nguyễn Công Thuấn (2024), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan và những giá trị văn chương”. Văn Thơ Công giáo, 14 thg 4, 2024 Nguồn: https://www.google.com.vn/search?q… Cập nhật ngày 15/7/2024.
* Annê Văn Ánh Tuyết
Tài liệu tọa đàm Sấm truyền ca (1670) của linh mục Lữ Y Đoan (1608-1678)
