Từ điển Việt – Bồ – La nhìn từ góc độ Ngôn ngữ học – Văn hóa

06/09/2025 768 lượt xem

* PGS. TS. Hoàng Dũng
Tài liệu tọa đàm ‘Cha Đắc Lộ và chân phước Anrê Phú Yên’

 

Từ điển là chuyện ngôn ngữ học, đã đành. Nhưng những gì ghi trong từ điển không gói gọn trong phạm vi ngôn ngữ học, mà còn là cái nhìn về văn hóa, phản ánh văn hóa của cộng đồng có ngôn ngữ được làm từ điển, và – trong trường hợp tác giả là người nước ngoài – cả đặc điểm văn hóa của người biên soạn nữa. Hơn nữa, là sản phẩm của một thời kỳ lịch sử, từ điển còn có khả năng soi rọi những mảng còn mờ tối của thời xưa.

Đó là trường hợp của Từ điển Việt – Bồ – La. Bài này sẽ tìm hiểu theo hướng ấy.

 

  1. Từ điển Việt – Bồ – La thể hiện cái nhìn của người châu Âu đối với văn hóa Việt Nam.

Việt Nam là một đất nước xa lạ đối với người châu Âu. Vì thế, những gì kỳ lạ (exotic) đều thu hút sự chú ý của Alexandre de Rhodes.

Sản vật:

  • Đũa: “Những que nhỏ mà một số người Đông phương dùng để ăn thay vì xiên, nĩa”.
  • Bánh chưng: “Thứ bánh làm bằng gạo và thịt heo, chỉ làm đầu năm mới”.
  • Cà cuống: “Côn trùng giống con ve người An Nam ăn một cách khoái trá”.

Phong tục, tập quán:

  • Bẻ tiền bẻ đũa: “Ly dị. Bởi vì việc bẻ đồng tiền và những chiếc đũa dùng để ăn, là dấu hiệu sự tan vỡ của hôn nhân khiến cho người vợ từ lúc đó có thể lấy chồng khác mà không có tội”.
  • Cắn cỏ lạy: “Cắn cỏ, để tỏ dấu khiêm tốn trước mắt ai hầu xin ân huệ, dường như tự xưng mình là súc vật”.
  • Ăn chay: “Sự ăn chay tức là kiêng ăn thịt và cá, nhưng vẫn ăn nhiều lần trong một ngày”. (Alexandre de Rhodes lưu ý ăn chay của người Việt khác với người châu Âu ở hai điểm: (1) kiêng ăn động vật nói chung, chứ không phải chỉ kiêng thịt; (2) có thể ăn nhiều lần chứ không hạn chế. Rõ ràng khi giải thích ăn chay như trên là người làm từ điển đã đứng trên quan điểm của người châu Âu, nhấn mạnh sự khác biệt giữa châu Âu và Việt Nam, để tránh nhầm lẫn có thể xảy ra).
  • Dác [nhắc] lên hàng khác: “Bắt đầu một dòng chữ mới, như người Trung Hoa có thói quen mỗi khi viết thì bắt đầu một dòng ở phía trên”. (Người châu Âu viết từ trái qua phải theo hàng ngang. Thành thử họ chú ý sự khác biệt: người Việt cũng như người Trung Hoa viết từ phải qua trái và theo hàng dọc).

Đặc biệt là chuyện tín ngưỡng dân gian:

  • Âm dương, Xin âm dương: “Gieo quẻ bằng tiền”.
  • Chú bụt: “Cầu kinh với tượng thần. Cầm ấn chú bụt: Khẩn cầu tượng thần để xua đuổi ma quỷ, và bởi đấy theo lệnh của thầy phù thủy, người ta dùng một ngón tay ấn vào bàn tay, mà người ta nghĩ rằng ma quỷ đang ở trong đó”.
  • Soi đồng: “Nhìn vào gương để làm phù chú”.
  • Thầy đồng: “Thầy phù thủy sử dụng gương, chiếu kính”.
  • Mời đồng: “Mời những thầy phù thủy sử dụng gương, chiếu kính”.
  • Của mã: “Đồ bằng giấy để đốt cúng người chết bên lương”.
  • Minh tinh: “Lá cờ lớn mang đi trong đám tang để tỏ lòng biết ơn người chết, trên lá cờ đó viết tên người chết bằng chữ lớn”.
  • Nhà chay: “Căn nhà trong đó người Lương cầu kinh cho hồn những người đã qua đời và dâng cho họ đủ thứ đồ ăn, trừ thịt và cá”.
  • Nhà xe: “Ngôi nhà bằng gỗ mà những người Lương dân làm để che mồ cho tổ tiên mình”.
  • Chàõ nhà táng: “Ngôi tháp cao chín tầng làm trên mộ của những người quyền quý. Người ta cũng làm tháp đó khi tế trời”.
  • Mụ bà: “Người ta tin là có mười hai bà mụ [bà đỡ đẻ cho vạn vật trong vũ trụ]: Vì tin như vậy, trên cùng một chiếc bàn để cúng các bà, người ta đặt mười hai mâm cỗ, cùng với mười hai đôi đũa để ăn. Họ quan niệm về các bà mụ đó giống như tổ tiên Lương dân chúng ta xưa đã quan niệm về thần Lucina (nữ thần Ánh sáng) hay thần Diana (nữ thần sinh đẻ)”.

Dễ dàng bắt gặp dấu vết của sự xung đột văn hóa (cultural conflict): Alexandre de Rhodes không dừng lại ở miêu tả, mà rất nhiều khi đứng trên quan điểm của châu Âu để phê phán với những từ ngữ như “khờ dại”, “ngây thơ”, “ngô nghê”, “mê tín”:

  • Yểm: “Theo người lương dân tưởng một cách khờ dại, thì là ếm chú vị quỷ thần, là kẻ bàu chủ của làng để vị ấy sau khi bị đuổi, không gây nên sự dữ”.
  • Ngã ba sông: “Người Lương dân sợ những thứ đó một cách ngô nghê”.
  • Ngả [ngã] tư: “Sự sợ hãi cách mê tín của người Lương dân”.
  • Nhà táng: “Nhà bằng giấy mà người Lương dân ngây thơ làm và đốt cho người hết của mình, nghĩ rằng trong thế giới bên kia nhà đó sẽ được biến thành nhà thực”.
  • Chiếu kính: “Nhìn vào gương của bà phù thủy, ngồi đồng chiếu kính. Đó là sự mê tín thông thường trong Vương quốc Đông-kinh. Tốt hơn, chiếu”.
  • Nêu: “Cây sào dài mà người Lương dân dựng lên một cách mê tín ở trước cửa nhà mình vào đầu năm mới”.
  • Nhương sao: “Thay đổi sao; Lương dân xin cách ngây thơ với thầy phù thủy, để xin xăm cho cuộc xuất hành tốt hơn trong công việc của mình”.
  • Thiên phủ, địa phủ, thủy phủ: “Ba vị quỷ thần mà người Lương dân tôn thờ cách mê tín; họ tưởng rằng vị thứ nhất cai trị trời, vị thứ hai cai trị đất và vị thứ ba cai trị biển, như thời xưa người Lương dân bên chúng ta gọi là Ioue (Thượng Đế), Plutonem (Diêm vương) và Neptunu (Hải thần)”.
  1. Từ điển Việt – Bồ – La là một nỗ lực vượt qua khó khăn để tìm hiểu văn hóa Việt Nam.

Một ví dụ: trường hợp từ ngữ tục.

Từ tục là vấn đề ngôn ngữ: cùng một sự vật có thể diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, tục hay không. Alexandre de Rhodes hiểu rất rõ điều đó. Chẳng hạn, ông tách từ ngữ chỉ sự tính giao ra làm ba loại:

  • Trung hòa: Đi lại cùng đàn bà: “Giao hợp cùng đàn bà, hợp pháp hay bất hợp pháp”.
  • Tốt nghĩa: Giao cảm: “Sự giao hợp giữa giống đực và giống cái, sự giao hợp xác thịt. Cách nói thanh lịch”.
  • Xấu nghĩa: Lắp đàn bà: “Đi cùng đàn bà, giao cấu với đàn bà; kiểu nói bất nhã”; Đéo: “Giao hợp với đàn bà, tiếng tục”.

Từ điển Việt – Bồ – La tổng cộng có đến hơn 20 từ ngữ tục[1], nhiều hơn bất kỳ một cuốn từ điển tiếng Việt hiện đại nào.

Làm thế nào để người bản xứ không ngại ngần nói những từ tục cho một người lạ, nhất là một nhà truyền giáo, nghe và ghi lại?

  1. Từ điển Việt – Bồ – La cho thấy có sự tiếp biến văn hóa giữa Châu Âu và Việt Nam.

Cho dẫu có xung đột văn hóa, Từ điển Việt – Bồ – La cho thấy các nhà truyền giáo vẫn cố gắng để giảm bớt khó khăn do sự khác biệt văn hóa gây nên. Truyền giáo là đưa một nền văn hóa vào một nền văn hóa khác. Khi yếu tố văn hóa bản địa được sử dụng một cách khéo léo để làm giảm sự bỡ ngỡ do khác biệt văn hóa, ta có sự tiếp biến văn hóa. Vài ví dụ:

  • “Ngày ăn chay: Ngày ăn chay, từ này đã được đem dùng để chỉ sự ăn chay của người Ki-tô hữu”. Ăn chay theo truyền thống Công giáo và theo phong tục Việt Nam không giống nhau (xem mục 1). Nhưng bất chấp sự khác biệt đó, các nhà truyền giáo vẫn sử dụng từ ngữ ngày ăn chay để chỉ sự ăn chay của người Ki-tô hữu.
  • Đức bà được cho là “Người đàn bà bậc nhất, như vợ của con Chúa xứ Đông Kinh; những bà thiếp của chính Chúa cũng được gọi như vậy, nhưng vợ của Chúa gọi là Chúa bà hay đức Chúa bà”. Do Đức bà là “người đàn bà bậc nhất”, nên Đức Mẹ Maria được gọi là Đức chúa bà Maria.
  • Chúa được gọi tên bằng cách phiên âm hay viết theo cách phương Tây: Iesu, Deos; nhưng cũng có thể bằng cách dịch Hán Việt: Thiên chủ; Thượng đế: “Vua trên trời. Có thể nói về Thiên Chúa, nếu không có sự dị đoan làm ngăn trở”[2]; hoặc bằng cách sử dụng tiếng thuần Việt: Đức Chúa blời; hay phối hợp cả ba cách: Đức chúa Iesu, Deos cha.[3]
  1. Từ điển Việt – Bồ – La – nhìn qua các ngôn ngữ Sino-xenic[4]

Nghiên cứu lịch sử tiếng Việt trung đại không thể bỏ qua Từ điển Việt – Bồ – La. Đó là một cột mốc quan trọng: lần đầu tiên tiếng Việt được ghi lại trong một cuốn từ điển theo chữ cái Latin. Tuy nhiên, khi xem xét cuốn từ điển này, cần một cái nhìn bao quát hơn ra tình hình các ngôn ngữ trong khu vực, ít nhất là các ngôn ngữ Sino-xenic như tiếng Hán, tiếng Nhật. [5]

Do nhu cầu truyền giáo, việc học tiếng để có thể đem lời Chúa đến cho các dân tộc ngoài châu Âu trở nên cấp thiết. Và để đáp ứng nhu cầu đó, các giáo sĩ bắt tay biên soạn từ điển.

Từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes xuất bản ở Roma năm 1651. Nhìn ra khu vực Đông Á, trước đó ở Nhật Bản, cuốn từ điển đầu tiên đối chiếu tiếng Nhật với một tiếng châu Âu là Từ điển La –  Bồ Nhật (Dictionarium Latino Lusitanicum, ac Iaponicum) xuất hiện năm 1595.[6] Xa hơn một chút, tại Trung Quốc, là cuốn Từ điển Bồ – Trung ở dạng viết tay, của Matteo Ricci và Michele Ruggieri, được cho là biên soạn trong giai đoạn 1583-1588 tại Triệu Khánh, Quảng Đông.

Như thế, đi đầu trong công việc biên soạn từ điển là Dòng Tên (xem Worcester 2017, mục Dictionaries, pp. 230-232). Quả vậy, tác giả của cả ba cuốn từ điển trên đây đều là tu sĩ Dòng Tên. (Cuốn Từ điển La – Bồ – Nhật không ghi tên tác giả cụ thể nhưng viết rõ là do Dòng Tên tại Nhật Bản xuất bản).

Trong ba cuốn từ điển, ngôn ngữ châu Âu dùng để đối chiếu với ngôn ngữ bản địa đều là tiếng Bồ Đào Nha.[7] Điều này là dễ hiểu: Những tu sĩ Dòng Tên buổi đầu ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản phần lớn là người Bồ Đào Nha: Trong số 95 tu sĩ Dòng Tên ở Nhật Bản cho đến năm 1600 thì 57 là người Bồ Đào Nha, chỉ 20 là Tây Ban Nha, 18 là Ý (Ruiz-de-Medina 1993); ở Trung Quốc, từ năm 1552 đến năm 1800, trong tổng số 920 tu sĩ Dòng Tên làm việc ở đây, có đến 314 là người Bồ Đào Nha, trong khi Pháp chỉ 130 (Mungello 2005). Điều đó giải thích tại sao Matteo Ricci và Michele Ruggieri là người Ý nhưng ngôn ngữ châu Âu được chọn để đối chiếu là tiếng Bồ Đào Nha.

Cần nhớ rằng các nhà thừa sai Dòng Tên làm từ điển không phải vì mục đích ngôn ngữ học, mà như một công cụ giúp cho việc truyền giáo. Và như thế, đối tượng sử dụng mà từ điển nhắm tới chính là các nhà truyền giáo, những người cần biết rành ngôn ngữ bản địa để đem lời Chúa đến cho họ, chứ không phải giúp cho người bản địa học tiếng Bồ Đào Nha. Vì thế cả ba cuốn từ điển đều được viết trên quan điểm phục vụ người Âu châu, giúp người Âu châu hiểu rõ những khác biệt về văn hóa.

Việc latin hóa chữ viết tiếng Việt và xây dựng từ điển tiếng Việt bằng chữ latin chỉ  được tiến hành sau Nhật và Trung Quốc vài chục năm và chắc chắn có kế thừa kinh nghiệm của việc chế tác chữ viết và biên soạn từ điển hai ngôn ngữ trên. Cần phải tiến hành khảo sát Từ điển Việt – Bồ – La vừa như một đối tượng riêng vừa trong sự so sánh hai cuốn Từ điển La – Bồ – Nhật và Từ điển Bồ – Trung – đó là cách làm hứa hẹn cho ta những phát hiện mới.

 

 Tài liệu tham khảo

 

  1. Levi, J. A. (2014). “The Ricci-Ruggieri Dicionário Europeu-Chinês: Linguistic and Philological Notes on Some Portuguese and Italian Entries”. Studies in Chinese and Sino-Tibetan Linguistics: Dialect, Phonology, Transcription and Text. Taipei: Institute of Linguistics, Academia Sinica.
  2. Martin, S. E. (1953). The Phonemes of Ancient Chinese. Baltimore: American Oriental Society.
  3. Mungello, D. E. (2005). The Great Encounter of China and the West, 1500–1800. Lanham: Rowman & Littlefield.
  4. Rhodes, A. de, 1651. Dictionarium Annamiticum, Lusitanum, et Latinum. Roma: Propaganda Fide. Bản dịch tiếng Việt của Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt và Đỗ Quang Chính (1991). Từ điển Annam-Lusitan-Latin. Hà Nội: Khoa học Xã hội.
  5. Ruiz-de-Medina, Father Juan G. (1993), Cultural Interactions in the Orient 30 years before Matteo Ricci. Catholic Uni. of Portugal.
  6. Trần Văn Toàn 2005. “Ðạo Thiên Chúa, đạo Gia Tô, đạo Cơ Ðốc, đạo Công giáo? Nên gọi thế nào cho chính danh?”. http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4289&rb=06
  7. Worcester, T. (ed.) (2017), The Cambridge Encyclopedia of the Jesuits. Cambridge: Cambridge University Press.

[1] Những từ còn lại là: dĕái, bòi, cặc, cứt, blỏ/lỏ, đái, dĕái/dái, bẹn, đôi, dánh, đụ, đéo, đắnh, đéic, đếch, ẽ/ỷa/ỷe, lắp đàn bà, lồn.

[2] Quan điểm của Alexandre de Rhodes về từ chỉ Chú Trời rõ ràng khác với ba vị giáo sĩ Dòng Tên Matteo, Diego de Pantoja và Ferdinand Verbiest sau này vào đời Càn Long. Họ quyết định là không dùng chữ Thiên, không dùng hai chữ Thượng Ðế, để tránh hiểu lầm, mà chỉ dùng hai chữ Thiên Chủ (hay là Thiên địa chân chủ, Chúa thật trời đất). Do đó gọi tên đạo là Thiên chủ giáo. (Xem Trần Văn Toàn 2005).

[3] Tương tự, Đức thánh thiên thần, Đức thánh Anjo giữ mình.

[4] Thuật ngữ do Samuel Elmo Martin (1953) đặt ra với –xenic bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp xenos “nước ngoài”, chỉ các ngôn ngữ có một bộ phận từ vựng vay mượn từ tiếng Hán.

[5] Triều Tiên là một trường hợp rất khác. Thông thường Công giáo là do các giáo sĩ phương Tây đến truyền đạo; còn ở Triều Tiên là do Yi Seung-hun, một người Triều Tiên, sau khi được một giáo sĩ Dòng Tên rửa tội ở Bắc Kinh năm 1784, đưa vào Triều Tiên. Như thế việc truyền đạo ở Triều Tiền muộn hơn nhiều so với Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Mãi đến năm 1874 mới có cuốn từ điển đầu tiên đối chiếu tiếng Triều Tiên với tiếng châu Âu là cuốn Từ điển Nga – Triều (Опыт русско-корейского словаря) của Mikhail Pavlovich Putsillo. Cuốn từ điển đầu tiên đối chiếu tiếng Triều Tiên với tiếng châu Âu bằng chữ Latin là cuốn Từ điển Triều – Pháp (Dictionnaire coréen-français), của Hội Thừa sai Paris (Société des Missions étrangères de Paris), xuất bản năm 1880.

[6] Sau đó, năm 1603, là cuốn Nippo Jisho (日 葡 辞書 Nhật Bồ từ thư, nghĩa đen là “Từ điển Nhật Bản-Bồ Đào Nha”) do một nhóm tu sĩ Dòng Tên người Bồ Đào Nha, mà người phụ trách chính là João Rodrigues. Phụ trương (Supplemento deste Vocabulario) 150 trang, thì xuất bản sau đó một năm, 1604.

[7] Còn từ điển tiếng Nhật và tiếng Việt có thêm tiếng Latinh cũng không khó giải thích: Thời đó hầu như giáo sĩ Công giáo cũng phải biết tiếng Latinh.