* Matthew Nguyễn Chương
Tài liệu tọa đàm “Cha Đắc Lộ và chân phước Anrê Phú Yên”
Gồm bốn phần
PHẦN MỘT – Giải ảo ngộ nhận về danh tính Alexander Rhodius (Đắc Lộ)
PHẦN HAI – Chữ Quốc ngữ KHÔNG phải là “Latin hóa tiếng Việt”
PHẦN BA – Không bị “đồng hóa ngôn ngữ” nhờ Chữ Quốc ngữ
PHẦN BỐN – Đâu là GIÁ TRỊ của Chữ Quốc ngữ?
PHẦN MỘT
Giải ảo ngộ nhận về danh tính
GIÁO SĨ DÒNG TÊN: NGÀI ALEXANDER RHODIUS (ĐẮC LỘ)
* “Công trạng chữ Quốc ngữ” của giáo sĩ Alexander Rhodius đã bị nhà cầm quyền thuộc địa cho là thuộc về người Pháp; nhiều thế hệ người VN sau này cũng nghĩ như vậy.
* Từ điển đầu tiên “Việt – Bồ – Latinh” (ghi chú: tiếng Pháp không trở thành chủ lưu trong giai đoạn truyền giảng đạo Công giáo vào thế kỷ 17).
* Vì sao chuyển âm là “Đắc Lộ”?
&1&
Đây, xin kể chuyện này làm món khai vị:
Tỉ như có ai viết, “Nhân vật Thạch Duông sinh ra tại Sài Gòn vào cuối thế kỷ 16”, từ đó rút ra nhận xét, “Thạch Duông sinh tại Sài Gòn, thành thử Thạch Duông là người nước Việt”.
Có tới mấy cái SAI, như sau:
– Cuối thế kỷ 16, không có tên gọi “Sài Gòn” (tiếng Việt), mà lúc đó nơi này còn mang tên là “Prei Nokor” (theo tiếng Khmer);
– “Prei Nokor” bấy giờ là lãnh thổ của Chân Lạp (Khmer), không phải nước Việt;
– Thành thử Thạch Duông sinh tại Prei Nokor đâu phải người nước Việt, mà là người Khmer.
&2&
Bắt qua câu chuyện của vị giáo sĩ quen ghi là Alexandre de Rhodes (sinh năm 1593, mất năm 1660). Có mấy điểm cần phân định rõ ràng:
– Lúc sinh thời, quê hương của vị giáo sĩ dòng Tên này không có tên gọi “Avignon” (tiếng Pháp), mà thời đó nơi đây mang tên “Avenio” (theo tiếng Latin);
– Bởi vì bấy giờ “Avenio” là lãnh thổ của quốc gia mang tên “Quốc gia Hội thánh” (Status Ecclesiasticus), còn gọi là “Quốc gia của sứ đồ” (Apostolorum statum), “Quốc gia Giáo hoàng / Giáo tông” (Stato Pontificio, tiếng Anh “Papal States”), không phải nước Pháp;
– Vị giáo sĩ dòng Tên sinh ra tại Avenio, do đó, không phải là công dân Pháp, mà là người thuộc “Sứ đồ quốc”, “Giáo tông quốc”.
Ngôn ngữ sử dụng chánh thức là tiếng Latin (không phải tiếng Pháp). Tên của vị giáo sĩ này viết bằng tiếng Latin là Alexander Rhodius (“Alexandre de Rhodes” do chuyển dịch qua tiếng Pháp).
&3&
Sau khi giáo sĩ Đắc Lộ qua đời (1660) thì mãi hơn một thế kỷ sau đó Avenio mới sáp
nhập vào nước Pháp (vào năm 1791, đổi tên thành “Avignon”).
3a) Mượn lại ví dụ mục &1&, đâu phải vì “Prei Nokor” sau này trở thành “Sài Gòn” của
nước Việt thì mọi cư dân sinh ra nơi vùng đất này từ những thế kỷ trước cũng… hóa thành người Việt? Nếu khẳng định “người Việt”, là sai!
Cũng vậy, đâu phải vì “Avenio” sau này trở thành “Avignon” của nước Pháp thì vị giáo sĩ dòng Tên sinh sống ở Avenio (trước khi sáp nhập vào nước Pháp) cũng … hóa thành công dân Pháp? Việc khẳng định “người Pháp”, thử nghĩ đi, là thiếu chuẩn xác rồi.
3b) Có một dữ kiện, xin chú ý: Vị giáo sĩ dòng Tên này soạn ra bộ “Từ điển Việt – Bồ – La” (năm 1651), có tiếng BỒ và tiếng LATIN là ngôn ngữ của các vị giáo sĩ người nước Bồ Đào Nha và nước “Giáo tông quốc” (Papal States).
Sao không viết tiếng Pháp? Bởi vì, rất đơn giản, giáo sĩ Đắc Lộ (Alexander Rhodius) không phải công dân Pháp.
3c) Thực dân Pháp đặt sự cai trị lên nước Việt từ hậu bán thế kỷ 19. Cũng bởi vào thời điểm này, Avignon đã thuộc nước Pháp, thành thử người VN khi đọc tiểu sử “Alexandre de Rhodes quê quán tại Avignon” bèn nghĩ ông là người Pháp.
Riêng trong vấn đề này, nhà cầm quyền thuộc địa bấy giờ đã có sự khôn khéo chính trị là nhận “công trạng đặt nền móng chữ Quốc ngữ” cho Pháp, bằng cách tạo ấn tượng giáo sĩ Đắc Lộ là “công dân Pháp” (!).
Trong khi đó, theo đúng những dữ kiện lịch sử khách quan, công trạng tiên phong phải kể đến là hàng giáo sĩ người Bồ Đào Nha (nổi bật là ngài Francisco de Pina). Ngài giáo sĩ Alexander Rhodius (Đắc Lộ) học tiếng Việt từ Francisco de Pina, và đóng góp tâm huyết trong việc hoàn thành bộ “Tự điển Việt – Bồ – La” (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum), với tư cách công dân của “Quốc gia Giáo tông” (Papal States).
&4&
Trước đây, người Việt khi chuyển ngữ họ tên, địa danh … nước ngoài thường mượn “cầu nối Hán tự”. Giáo sĩ Alexander Rhodius, ghi bằng Hán tự là 亞歷山. 德 羅 “A Lịch Sơn. Đức La”, nói gọn là “Đức La”. Vậy, tên gọi “Đắc Lộ”, từ đâu?
Xin nói vắn tắt về hành trạng của giáo sĩ. Tổ tiên là người vùng Aragón, Tây Ban Nha (không phải người Pháp), về sau này dời qua sống ở Avenio thuộc Giáo tông quốc (Stato Pontificio; tiếng Anh: Papal States), quốc gia này tồn tại cả ngàn năm (754–1870) với rất nhiều lần thay đổi địa giới.
Giáo sĩ Alexander Rhodius (1593-1660) từng làm việc khoảng 5 năm tại Áo Môn (Macau) trước khi đến Đàng Trong vào năm 1624. Sau đó, ngài truyền giảng tại Đàng Trong, Đàng Ngoài, gặp gian truân nhiều đợt (bị trục xuất vài lần, lần trục xuất cuối cùng vào năm 1645 là vĩnh viễn). Trong quãng thời gian này (từ năm 1624 đến năm 1645), ngài cũng có dịp trở lại Áo Môn (Macao) để giảng dạy Thần học tại Viện đại học Thánh Phao lô (Colégio de São Paulo) và truyền đạo cho người Hoa (từ năm 1630 đến năm 1640).
Khi đọc tên của vị giáo sĩ được ghi bằng chữ Hán (nêu trên) là 德 羅, tiếng Quảng Đông của người Hoa (ở Áo Môn) phát âm: /dak lò/ (âm /lò/ được đọc có thanh điệu giống với “lộ”). Khi đặt chân đến Đàng Trong, vị giáo sĩ Alexander Rhodius đã là người am hiểu chữ Hán, ngài ghi tên bằng chữ Hán (德羅) nhưng phát âm bằng Hoa ngữ Quảng Đông.
Tôn trọng cách xướng danh của vị giáo sĩ, người Việt đọc thành “Đắc Lộ”.
PHẦN HAI
Chữ Quốc ngữ KHÔNG phải là “LATIN HÓA” TIẾNG VIỆT
* Nói cho chính xác: chữ Quốc ngữ chỉ là Latin hóa chữ viết (bề mặt chữ cái).
* Trong khi đó, dùng chữ Hán thì tiếng Việt buộc phải “hóa” dưới tác động của Hán ngữ!
Xin cùng nhau nhớ rằng: ký tự biểu ý (Hán tự), ký tự biểu âm Latin đều là cái vỏ văn tự, còn “hồn cốt” nằm ở tiếng (nói) Việt. Văn tự lý tưởng nhứt, thích hợp nhứt là phải ghi được toàn bộ tiếng (nói) Việt.
Chỉ là mượn cái vỏ văn tự Latin thôi, nhưng đã bị hiểu sai trật qua mệnh đề phát biểu như sau:“chữ Quốc ngữ là Latin hóa tiếng Việt”. Nhiều người vô tình cũng lặp lại như vậy, mà không biết mình đang lặp lại một mệnh đề sai nghĩa!
&1&
Trước hết, cần hiểu “hóa” nghĩa là gì. “Hóa” (化) nghĩa là chuyển biến tính chất, thay đổi về chất, làm biến đổi.
Dùng chữ Hán là Hán hóa tiếng Việt được hiểu là tiếng Việt buộc phải “hóa” dưới tác động của Hán ngữ: làm biến đổi tiếng Việt về ngữ âm, không chỉ vậy, còn biến đổi cả ngữ pháp!
Xin giải thích:
1a) Chúng ta phát âm tiếng Việt: “máu”, “thịt”, “ăn”, “uống”, “ngày”, “tháng”, “năm” – khi dùng Hán tự làm văn tự để ghi lại, chuyện gì xảy ra?
Hoàn toàn không có chữ Hán nào giữ lại cách phát âm “máu”, “thịt”, “ăn”, “uống”, “ngày”, “tháng”, “năm” trong tiếng Việt! Mà tiếng Việt chúng ta buộc phải biến đổi ngữ âm!
Đây, “thịt” buộc phải đọc thành: “nhục” 肉 / “máu” buộc phải đọc thành: “huyết” 血 / “ăn” buộc phải đọc thành: “thực” 食 / “uống” buộc phải đọc thành: “ẩm” 飲 / “ngày” buộc phải đọc thành: “nhật” 日 / “tháng” buộc phải đọc thành: “nguyệt” 月 / “năm” buộc phải đọc
thành: “niên” 年.
Những tiếng thuần Việt của chúng ta, như mấy dẫn chứng nêu trên, buộc phải biến đổi trở thành “âm Hán-Việt” (không còn giữ âm thuần Việt) một khi ghi bằng Hán tự!
Thêm ví dụ này nữa. Câu nói bằng Nam âm (thuần Việt) gần gũi, ngọt ngào như “Mẹ, con yêu mẹ” hoàn toàn biến mất khi dùng chữ Hán, mà phải biến âm khác đi (gọi là Hán-Việt): “Ma ma, ngã ái nhĩ”!
1b) Biến đổi ngữ pháp:
Khi thốt lên tiếng Việt “trời xanh”, “năm mới”, “phước lành” – yếu tố chánh “trời”, “năm”, “phước” đứng trước; yếu tố bổ nghĩa “xanh”, “mới”, “lành” đứng sau. Ngữ pháp tiếng Việt là vậy.
Khi dùng chữ Hán để ghi, chuyện gì xảy ra? Ngữ pháp tiếng Việt buộc phải biến đổi, đảo ngược theo ngữ pháp của tiếng Hán: “thanh thiên” 青天 , “tân niên” 新年, “thiện phúc” 善 福 – yếu tố chánh “thiên” (trời), “niên” (năm), “phúc” (phước) đứng sau, trong khi yếu tố bổ nghĩa “thanh” (xanh), “tân” (mới), “thiện” (lành) đứng trước.
Ngữ âm và ngữ pháp của tiếng Việt đều không giữ được nguyên bản.
&2&
Còn chữ Quốc ngữ, dùng văn tự biểu âm Latin?
Khi chúng ta dùng chữ abc ghi lại tiếng (nói) Việt: “máu”, “thịt”, “ăn”, “uống”, “ngày”, “tháng”, “năm”…, có phải biến âm kiểu nào đó theo tiếng Latin không (gọi là La-Việt kiểu như Hán-Việt)? Hoàn toàn không! Chỉ có tiếng Việt, chỉ là tiếng Việt mà thôi.
Theo ngữ pháp tiếng Việt là “trời xanh”, “năm mới”, “phước lành”, khi ghi bằng chữ Quốc ngữ thì có phải biến đổi ngữ pháp gì không? Không. Ngữ pháp tiếng Việt vẫn được giữ nguyên!
Không biến đổi, tức là không “hóa”, do đó dùng chữ Quốc ngữ không phải là Latin hóa tiếng Việt (không biến đổi ngữ âm, không biến đổi ngữ pháp). Chữ Quốc ngữ chỉ là Latin hóa chữ viết (tức chỉ biến đổi, chỉ “hóa” về mặt chữ, bề mặt chữ viết mà thôi).
&3&
Chuyển dạng ký tự, không phải là “dịch”:
3a) Không ít người vẫn còn lẫn lộn trong trí hiểu, đó là quen gọi như sau: “dịch” (một đoạn văn, bản văn, bài thơ) từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ. Ồ, nói vậy là sai trật rồi! Ở đây, chữ Nôm chuyển dạng ký tự sang chữ Quốc ngữ, chỉ vậy thôi, không “dịch” gì hết, bởi vì toàn bộ âm đọc (+ nghĩa) trong chữ Nôm và chữ Quốc ngữ giống nhau.
Khi viết dòng chữ Nôm: 𤾓 𢆥 𥪞 𡎝 𠊛 些, dùng để ghi Nam âm (quốc âm), đọc là: Trăm năm trong cõi người ta. Chữ Quốc ngữ, như chúng ta thấy, chỉ là dùng ký tự abc (không dùng ký tự “vuông”) trong khi âm đọc và nghĩa thì y hệt bên chữ Nôm, cũng là “Trăm năm trong cõi người ta”!
3b) Trong khi đó, từ chữ Hán sang chữ Quốc ngữ, thấy gì? Chẳng hạn: 汝等行看取敗虛, âm Hán-Việt là “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Đa số người dân không làm công việc nghiên cứu ngôn ngữ, thành thử sẽ phải thắc mắc câu đó nghĩa gì vậy.
Có nhiều bản dịch, chẳng hạn Trần Trọng Kim dịch ý là “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.
Ở đây, có hai hê thống âm đọc khác nhau – một đàng là “Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”, còn một đàng là “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” (được giải thích về nghĩa). Tức là từ chữ Hán (âm Hán-Việt) dịch sang chữ Quốc ngữ.
Xin chú ý: chữ Hán cũng phải thực hiện thao tác là dịch sang chữ Nôm (cho dù ký tự “vuông” hao hao nhau đi nữa). Đây, ví dụ đơn giản, nhẹ nhàng hết sức: chữ Hán 食飯 (âm Hán-Việt “thực phạn”), còn trong chữ Nôm ghi: 𫃀 粓, đọc là “ăn cơm” (Nam âm). Tức, nghĩa của “thực phạn” trong chữ Hán là “ăn cơm” trong chữ Nôm. Ở đây, chữ Hán được dịch sang chữ Nôm.
Thêm ví dụ nữa. “Mẹ ơi, con ăn cơm”, một câu nói bằng tiếng Việt rất bình thường đời nay, mà đời xưa người Việt cũng nói tiếng Việt như vậy, dĩ nhiên! Bình thường trong lời ăn tiếng nói, nhưng…lại không được ghi nhận bình thường trong Hán tự (văn tự chánh thống thời trước): Hán tự không hề có chuỗi ký tự nào phát âm thành “Mẹ ơi, con ăn cơm”.
Chữ Hán viết: 媽媽, 我食飯 (đọc là: Ma ma, ngã thực phạn)
Chữ Nôm viết: 媄 𠲖, 𡥵 𫃀 粓 (đọc là: Mẹ ơi, con ăn cơm)
Câu chữ Hán “Ma ma, ngã thực phạn” đem nói với bà con người Việt thì bà con khó hiểu, buộc phải dịch sang câu chữ Nôm là “Mẹ ơi, con ăn cơm”, dễ hiểu hết sức!
Giữa chữ Nôm và chữ Quốc ngữ chỉ là thao tác chuyển dạng ký tự.
Trong khi đó, chữ Hán phải dịch sang chữ Nôm (trước đây), dịch sang chữ Quốc ngữ (hiện nay) thì mới hiểu nghĩa cho tỏ tường.
PHẦN BA
KHÔNG BỊ “ĐỒNG HÓA NGÔN NGỮ” NHỜ CHỮ QUỐC NGỮ
&1&
Cần được nhắc lại rằng: Chữ Quốc ngữ được thành hình từ những thập niên đầu thế kỷ 17, đặc biệt với công trạng hệ thống hóa, biên soạn Tự điển Việt – Bồ – La của ngài giáo sĩ Đắc Lộ, trước hết xuất phát từ nhu cầu trong “nhà Đạo” (rao giảng Ơn Cứu Chuộc của Chúa Giê-su), với mục đích khiêm tốn là phổ biến trong các giáo xứ. Bên ngoài xã hội VN thì vẫn là chữ Hán, chữ Nôm. Không ai có thẩm quyền bắt buộc các vị giáo sĩ Công giáo phải có nhiệm vụ là làm ra bộ chữ cho toàn nước Việt.
Chính giới trí thức, đặc biệt là hoàng đế Thành Thái (1879-1954, tên khai sanh Nguyễn Phước Bửu Lân 阮福寶嶙)nhận ra GIÁ TRỊ của chữ Quốc ngữ [1] nên đã mượn lấy bộ chữ này – lưu hành trong “nhà Đạo” – để phổ biến rộng rãi cho các tầng lớp trong xã hội VN.
Đó là nhận định được rút ra từ khảo luận “Emperor Thành Thái’s Educational Revolution” (“Cách mạng giáo dục của Hoàng đế Thành Thái”) của sử gia Liam Kelley. Theo đó, trong tàng thư lưu trữ của Đại Nam Hội Điển Sử Lệ Tục Biên cho thấy: vào năm 1906, Hoàng đế Thành Thái đã ban hành một sắc lệnh là “khuyến khích giảng dạy Nam âm” (chữ Quốc ngữ).
Sắc lệnh này vô cùng quan trọng, vì khi nhà vua ra lệnh sử dụng chữ Quốc ngữ là nhà vua đã công khai ý định muốn thấy tầng lớp quan lại và sĩ phu phải thoát khỏi Hán hóa trong giáo dục, văn hóa, và nhứt là tư tưởng!
Chữ Nôm chứa được Nam âm (tiếng nói của người nước Nam, âm thuần Việt), nhưng quá khó để học (tỉ lệ mù chữ Nôm, thời xưa, chiếm gần đến 95%). Còn chữ Hán không chứa được Nam âm, thành thử vua Thành Thái đẩy mạnh việc “thoát Hán”, thoát khỏi ảnh hưởng của chữ Hán là vì vậy.
&2&
Ở châu Mỹ Latin, gần như toàn bộ các quốc gia đều sử dụng ngôn ngữ của Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha từng là quốc gia thực dân thống trị ở vùng này. Trong khi đó, ở châu Phi có đến 29 quốc gia sử dụng tiếng Pháp làm tiếng nói và chữ viết chính thức…Những ngôn ngữ bản địa rơi vào bờ vực của diệt vong, điều này được gọi là “cái chết ngôn ngữ” (language death), thậm chí là “diệt chủng ngôn ngữ” (linguistic genocide / linguicide).[2]
Xu hướng “diệt chủng ngôn ngữ” (linguicide) thời thực dân, như đã thấy, là họ dùng mọi biện pháp nhằm loại trừ chữ viết nội sinh của quốc gia thuộc địa (nếu có, “nội sinh” nghĩa là chữ viết do chính quốc gia đó sáng tạo nên, mà không phải vay mượn). Và loại trừ kể cả tiếng nói của tộc người bản địa (đây là việc khó khăn hơn nhiều, vì tộc người nào cũng có sẵn tiếng nói, dù không có chữ viết mà phải vay mượn).
Sau đó, quốc gia thực dân sẽ thay thế bằng chính ngôn ngữ (chữ viết lẫn tiếng nói) của quốc gia thực dân, hoặc dùng biện pháp “mưa lâu thấm đất” hoặc dùng “bão táp cuồng phong”, hoặc dùng cả hai. Kết quả là toàn bộ dân chúng của quốc gia thực địa nói và viết bằng ngôn ngữ của “mẫu quốc”.
Vây, rào cản nào khiến cho người Pháp không thể buộc toàn bộ dân VN nói và viết bằng tiếng Pháp (ngôn ngữ của “mẫu quốc”), như họ đã làm thành công tại châu Phi?
&3&
Khi đối đầu với Pháp, với mục tiêu “đồng hóa ngôn ngữ”, triều đình nước Việt và rộng ra là xã hội nước Việt lúc bấy giờ biết lấy gì để chống lại sự đồng hóa? Chữ Nôm dung chứa quốc âm, nhưng đã bị phụ bạc mà không được trở thành văn tự chánh thống trong nhiều triều đại quân chủ ở nước Việt. Chữ Hán, trong so sánh với nhu cầu dung chứa quốc âm (Nam âm) của ngôn ngữ Việt, trở thành một văn tự khiếm khuyết.
Để có thể chống lại sự đồng hóa ngôn ngữ trong tham vọng của thực dân Pháp, điều hệ trọng là nước Việt phải có một văn tự đủ nội lực – nghĩa là thứ văn tự ấy tập hợp được quốc âm, cất lên được tiếng nói của người Việt. Tìm đâu ra?
Thời may, nơi xã hội nước Việt ròng rã từ thế kỷ 17 cho tới thế kỷ 19 hiện diện lặng lẽ một hệ văn tự biểu âm, là chữ Quốc ngữ, nhưng chưa được thừa nhận chánh thức. Chữ Quốc ngữ, bộ chữ dành riêng cho tiếng Việt, có sức dung chứa di sản ngôn ngữ gồm Nam âm lẫn âm Hán-Việt, tức toàn bộ tiếng nói trong ngôn ngữ của người Việt!
Một dẫn chứng sinh động về tầm nhìn “thoát Hán” đồng thời từ khước Pháp hóa, đó là hoàng đế Thành Thái. Nơi chữ Quốc ngữ, nhà vua nhận ra một văn tự đủ nội lực, có thể đáp ứng nhu cầu này.
Chữ Quốc ngữ là văn tự dành riêng cho tiếng Việt, tạo thành “tấm khiên”, giúp cho người VN có thể thoát khỏi mối họa đồng hóa ngôn ngữ từ Pháp (lấy Pháp ngữ thay thế cho tiếng mẹ đẻ của người Việt).
Nhiều nước châu Phi bị đồng hóa ngôn ngữ hoàn toàn bằng Pháp ngữ, nói cho cùng, cũng bởi vì họ không có một văn tự dành riêng cho tiếng nói bản địa.
&4&
4a) Bất thành trong mục tiêu “đồng hóa ngôn ngữ” áp đặt tiếng Pháp thay thế tiếng mẹ đẻ của người Việt, thành thử chính quyền thực dân chuyển chính sách là tận dụng chữ Quốc ngữ – dù rằng chữ Quốc ngữ ghi tiếng Việt, nói cho cùng, là một ngoại ngữ đối với người Pháp không hơn không kém!
Chữ Quốc ngữ kỳ thực không được thực dân Pháp ủng hộ một cách mạnh mẽ như nhiều
người thường tưởng tượng ra. Trong một khảo luận mang tên Colonialism and Language Policy in Viet Nam (Chủ nghĩa thực dân và Chính sách ngôn ngữ tại Việt Nam) của John De Francis, một chuyên gia nghiên cứu ngôn ngữ Việt, ông cho biết: người Pháp rất hạn chế trong chính sách phổ biến Quốc ngữ, với mục tiêu không hơn 10% người VN được đào tạo thông thạo Quốc ngữ, chỉ để phục vụ trong quản lý xã hội và truyền bá văn hóa Pháp.
Vì sao người Pháp ngần ngại phổ biến Quốc ngữ ra toàn thể dân chúng? Đây là thứ văn tự dễ học, dễ viết, và đặc biệt chứa đựng tiếng nói của người bản địa; mà như vậy chữ Quốc ngữ hoàn toàn có thể được các nhà giáo, các nhà hoạt động yêu nước dùng vào việc tập hợp đại chúng để chống lại những chính sách thực dân.
Người Pháp lo lắng là phải. Những cuộc vận động bãi thị, bãi khóa, biểu tình bằng thứ chữ gì? Chữ Quốc ngữ! Những tờ bố cáo về giáo dục, những tờ truyền đơn của đảng phái chống Pháp bằng thứ chữ gì? Chữ Quốc ngữ! Đó là những dữ kiện lịch sử đã diễn ra ngay trong lòng xã hội Việt Nam thuộc địa dưới thời Pháp thuộc.
PHẦN BỐN
ĐÂU LÀ NHỮNG GIÁ TRỊ ĐỘC ĐÁO CỦA CHỮ QUỐC NGỮ?
* “Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước” (Đông Kinh nghĩa thục, đầu thế kỷ 20).
&1&
1a) “Chữ Quốc ngữ dễ học, dễ đọc, dễ nhớ”, đây lại đang là … cách lập luận của một số người dè bĩu chữ Quốc ngữ! Họ cho rằng chữ Quốc ngữ chỉ như vậy thôi, “dễ học, dễ đọc, dễ nhớ” thuộc về công dụng, đâu có gì mà phải vỗ tay hồ hởi.
Bởi vì, nhìn qua bên Nhựt Bổn: vừa dùng chữ Hán (người Nhựt gọi là Kan-ji: 漢字), vừa dùng bộ chữ hiragana (ひらがな), katakana (カタカナ).Văn tự vừa biểu ý (Kan-ji), vừa biểu âm (hiragana, katakana), khó học khó nhớ, rắc rối lắm. Nhưng người Nhựt vẫn hội nhập thế giới rất giỏi, đất nước của họ trở thành cường quốc kính tế đáng nể (đứng thứ 3 thế giới). Rồi, Hàn quốc đâu dùng văn tự Latin (như chữ Quốc ngữ ở VN) mà dùng bộ chữ Hangul (한글), người Hàn có nền kinh tế với GDP nằm trong “Top ten”.
1b) Lối suy nghĩ cho rằng dùng hệ chữ Latin thì đất nước phát triển, lẫn cách lập luận ngược lại, nghĩ rằng không dùng chữ Latin thì đất nước vẫn phát triển, cả hai đều không thích hợp. Vì đặt “hệ qui chiếu” không trúng!
Đánh giá cái hay, cái dở của một hệ thống văn tự là được dựa trên qui luật vận hành của ngôn ngữ. Còn sự hưng thịnh hay suy yếu của một quốc gia lại thuộc về qui luật vận hành chánh trị – kinh tế, là một phức hợp gồm nhiều yếu tố.
Trong nhóm G7 thì có đến 6 quốc gia dùng văn tự Latin, trong Top 15 thì có đến 11 quốc gia dùng văn tự Latin. Nhưng, đâu thể dễ dãi lấy việc sử dụng văn tự Latin để giải thích (còn hàng chục quốc gia khác cũng văn tự Latin mà kinh tế yếu ớt thì sao?).
Rồi, những ai “biện luận” rằng Hàn Quốc dùng bộ chữ Hangul mà đất nước rỡ ràng, vậy Triều Tiên cũng Hangul nhưng phát triển quá kém, GDP xếp hạng 115 – giải thích sao đây? Dễ thấy ngay, sự hưng vong nằm ở cách thức quản trị xã hội, thiết chế vận hành kinh tế, đâu nằm ở bộ chữ!
Tự dưng buộc văn tự phải gánh lấy sự hưng vong quốc gia, kỳ thực, rất dễ rơi vào những suy đoán cảm tính không hơn không kém.
&2&
Trở lại với chữ Quốc ngữ của chúng ta.
2a) Văn tự (chữ viết) lý tưởng nhứt, tốt nhứt cho một tộc người là phải chứa được toàn bộ tiếng nói của tộc người. Sự gắn kết giữa vỏ văn tự với tiếng nói (“hồn” của ngôn ngữ) tạo nên GIÁ TRỊ của văn tự!
2b) Chữ Hán là văn tự thích hợp cho người Hoa, bởi vì văn tự này chứa được tiếng nói của người Hoa. Trong khi đó, chữ Hán chỉ chứa được một phần tiếng nói của người Việt (“âm Hán-Việt”), còn toàn bộ quốc âm (Nam âm) thì không có mặt trong chữ Hán! Tức chữ Hán không phải là văn tự thích hợp cho Tiếng Việt.
Trường hợp này cũng tương tự đối với tiếng Hàn. Thời xửa xưa, người Hàn cũng từng dùng Hán tự. Tuy nhiên, Hán tự không chứa được quốc âm của người Hàn, thành thử họ phải tạo ra bộ chữ Hangul để tiếng nói của họ có nơi “trú ngụ”.
Người Nhựt cũng gần như vậy. Hán tự (Kan-ji) cũng không hoàn toàn tương thích đối với tiếng Nhựt, họ phải dùng thêm bộ chữ hiragana, katakana (cả hai bộ chữ này xuất hiện từ thế kỷ V để biểu âm theo cách đọc của người Nhựt).
2c) Chữ Nôm ra đời nhằm lưu giữ quốc âm (Nam âm), nhưng rất nhiều triều đại quân chủ nước Việt đã xem nhẹ vai trò của chữ Nôm.
May thay, “thân phận” hẩm hiu của chữ Nôm đã được chữ Quốc ngữ gánh lấy, chia sẻ kho tàng Nam âm chứa trong chữ Nôm.
Tỉ dụ “thanh thiên” (âm Hán-Việt) lẫn “trời xanh” (Nam âm) đều được lưu giữ, ghi lại dễ dàng bằng chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ chứa được tiếng nói Việt, gồm cả âm Hán-Việt lẫn Nam âm (quốc âm), và đây chính là GIÁ TRỊ của chữ Quốc ngữ!
Xin nhắc lại, “dễ học, dễ đọc, dễ nhớ” chỉ là công dụng, là hiệu quả của chữ Quốc ngữ mà thôi. Rất tiện lợi, nhưng đó không phải là giá trị cốt lõi của chữ Quốc ngữ.
Xin chú ý: đối với giới cầm quyền thực dân Pháp, chữ Quốc ngữ chỉ là công cụ; trong khi chữ Quốc ngữ mang lấy giá trị đối với tiếng Việt của người Việt! Những ai do vội vàng chưa tìm hiểu nên chỉ nhìn chữ Quốc ngữ như là công cụ, họ đã vô tình nhiễm lấy não trạng
“thực dân” rồi!
Vào đầu thế kỷ 20, nhiều sĩ phu trí thức người Việt am hiểu chữ Hán, và do vậy, họ thừa hiểu chữ Hán là thứ văn tự khiếm khuyết so với nhu cầu của Tiếng Việt! Thành thử chính họ đã cổ võ việc học chữ Quốc ngữ, vì họ nhận ra giá trị cốt lõi của bộ chữ này.
&3&
Còn một giá trị nữa, rất rõ ràng, nhưng do vô tình…mà nhiều người không nhận biết. Chữ Hán, khi tiền nhân chúng ta viết ra, người Trung Hoa nhìn vào là họ hiểu được liền. Bởi vì chúng ta ôm nguyên dạng bộ chữ Hán về dùng, chúng ta gọi “Hán tự” chớ đâu bao giờ gọi đó là “Việt tự” (chữ Việt).
Trong khi đó, nếu mời bất cứ người Bồ, người Ý, người Pháp – thuộc hệ thống văn tự gốc Latin – nhìn vào mặt chữ Quốc ngữ mà chúng ta đang viết (cũng thuộc hệ thống văn tự biểu âm Latin) thì họ không tài nào hiểu được (muốn hiểu, họ phải học)!
Bộ chữ Quốc ngữ, quả thực, đã là bộ chữ dành cho người Việt chúng ta mà thôi, hoàn toàn trở thành Bộ-chữ-của-Tiếng-Việt.
PHẦN KẾT LUẬN
“Ăn trái nhớ người trồng cây”
* Xin phép được mượn câu chuyện bên Đờn ca Tài tử phương Nam. Không thể biết được ai là “Tổ” của sinh hoạt đờn ca này, phổ biến trong thời kỳ định cõi miền châu thổ Đồng Nai – Cửu Long. Nhưng, hết thảy giới nhạc sĩ, nghệ nhân của Đờn ca Tài tử đều tôn vinh nhạc sư Ba Đợi, xin chú ý, là vị Hậu tổ (後祖) của ngành nghệ thuật mang đậm bản sắc văn hóa phương Nam này.
Nhạc sư Ba Đợi (tên thật Nguyễn Quang Đại) sinh sống sau này, vào thế kỷ 19 (sinh năm 1855, năm mất chưa rõ); hơn nữa, nhạc sư cũng không phải sinh quán ở miền châu thổ mà ông quê ở Quảng Trị, ông làm nhạc quan trong triều đình nhà Nguyễn (dưới triều Tự Đức, Kiến Phúc, Hiệp Hòa), ông hưởng ứng phong trào Cần Vương – sau biến cố kinh đô Phú Xuân thất thủ năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn, ông tìm đường vào miền châu thổ phương Nam để sống.
Vậy, vì sao Đờn ca Tài tử miền Nam lại tôn vinh nhạc sư Ba Đợi – chẳng phải là người có sinh quán tại miền châu thổ – là vị Hậu tổ? Bài vị của nhạc sư hiện nay đặt tại Đình Vạn Phước (Cần Đước thuộc Long An, mới đây nhập tỉnh gọi là “tỉnh Tây Ninh”).
Bởi nhạc sư Ba Đợi là người đã có công trạng rất lớn, ông hệ thống bài bản của Đờn ca Tài tử thành “20 bài bản tổ” [3]. Từ “20 bản tổ” này mà các nhạc sĩ, nghệ nhân qua nhiều thế hệ thỏa sức phát triển, làm giàu nghệ thuật, với kết quả sau này là UNESCO ghi danh (inscribes) [4] Đờn ca Tài tử vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại (Inscribed in 2013 Art of Đờn ca tài tử music and song in southern Viet Nam on the List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity).
* Cũng xin giải thích ngắn gọn, theo Tự điển Thiều Chửu, ông tổ đầu tiên gọi là Tổ 祖, thứ nữa là Tông 宗, tục thường gọi các đời trước là tổ tông 祖宗, “liệt tổ liệt tông” 列祖列宗. Vì lẽ đó, có người gọi nhạc sư Ba Đợi là “Nhạc tông”; nhưng rồi đều tôn vinh nhạc sư Ba Đợi bằng danh xưng “Hậu tổ” (後祖).
/1/ Trở lại với chủ đề của Tọa đàm về ngài giáo sĩ Đắc Lộ.
Ngài Đắc Lộ đã có công trạng rất to lớn, xuất sắc khi hệ thống hóa chữ Quốc ngữ trong bộ Tự điển Việt – Bồ – La. Từ bộ Tự điển này mà nhiều thế hệ đã phát triển, làm giàu cho chữ Quốc ngữ và tiếng Việt.
Người Việt nước Nam chúng ta vốn có truyền thống “Ăn trái nhớ người trồng cây”, ở đây cần ăn trái nhớ người chăm bón cây từ thuở ban đầu (ngài Đắc Lộ đã chăm bón cho “cây Quốc ngữ”).
Theo cách tôn vinh bên Đờn ca Tài tử, nhạc sư Ba Đợi tuy không phải “Tổ” nhưng xứng đáng được gọi là “Hậu Tổ”; cũng vậy, với công trạng hệ thống chữ Quốc ngữ của ngài Đắc Lộ, đã tới lúc (dù muộn) và rất cần thiết tôn vinh giáo sĩ Đắc Lộ là Hậu tổ của chữ Quốc ngữ!
/2/ Để biết trân trọng với danh xưng “Hậu Tổ” vừa nêu, thiết nghĩ, chúng ta cần ghi nhớ nằm lòng về GIÁ TRỊ của chữ Quốc ngữ! Nếu chỉ nhìn thấy chữ Quốc ngữ là “dễ đọc, dễ nhớ” thì còn nông nổi lắm trên bề mặt (đã phân tích ở PHẦN BỐN của Tham luận này).
Đối với TIẾNG VIỆT, chữ Hán là văn tự thích hợp với tiếng Hán, nhưng khiếm khuyết so với nhu cầu của Tiếng Việt. Chỉ có chữ Nôm, và chữ Quốc ngữ là đáp ứng được tiếng Việt (ghi được quốc âm lẫn âm Hán-Việt được sàng lọc). Tiếc thay, phần lớn các triều đại quân chủ nước Việt đã không dùng chữ Nôm làm văn tự chính thức.
Ghi chú thêm: Vị bác sĩ Yersin (đồng thời ông ta còn là một mục sư Tin Lành) được người Việt
tôn trọng, ghi ơn, đúc tượng. Thành thử đối với ngài Đắc Lộ là một nhà ngôn ngữ học, tự điển học (ngài thường được biết đến là một giáo sĩ của dòng Tên đạo Công giáo), việc tôn vinh là Hậu tổ, và đúc tượng ghi ơn cũng hợp tình hợp lẽ.
/3/ Cùng nhau nhắc lại một sự thật nền tảng để não trạng chúng ta không bị xui rủi bởi “cơn dịch” ăn mòn trí nhớ lịch sử: Chữ Quốc ngữ được các giáo sĩ Công giáo xây đắp nền móng trong thế kỷ 17.
Thực dân Pháp biết đến nước Việt và tấn công xâm lược vào năm 1858, giữa thế kỷ 19. Độ cách quãng thời gian từ lúc đạo Công giáo du nhập cho đến khi Pháp đổ quân là sau đó gần 250 năm, gần hai thế kỷ rưỡi. Xa cách tới cỡ vậy, mà vẫn có người ráng gán cho bằng được liên quan giữa sự du nhập đạo Công giáo với mưu đồ xâm lược của Pháp – hoặc là họ lười đọc lịch sử, hoặc là họ cố tình quên béng lịch sử, thành thử họ đã đi quá xa của mọi sự khôi hài trên đời.
Xin cùng nhau nuôi dưỡng tâm tình khoan dung, hòa ái – đây là cách thức hóa giải mọi suy đoán chật hẹp.
Sanh quán của Alexander Rhodius là Avenio, vào năm 1593, thuộc quốc gia “Papal State” (tô màu vàng, nằm phía bên trên);
Lúc ngài Đắc Lộ qua đời năm 1660, quê quán Avenio của ngài vẫn thuộc quốc gia “Papal States” (tô màu vàng, nằm phía bên trên của bản đồ).
Vào năm 1791, Avenio không còn thuộc “Papal States” mà sáp nhập vào nước Pháp, lấy tên Avignon (màu vàng bên trên bản đồ, vị trí của Avenio, đã biến mất)
[1] Đọc tiếp phần Bốn: Đâu là giá trị của Chữ Quốc ngữ?, trong Tham luận này.
[2] Trích, và tham khảo từ bài Chữ Quốc ngữ đã cứu tiếng Việt khỏi nạn diệt chủng ngôn ngữ?, Nguyễn Quốc Tấn Trung.
[3] Gồm các điệu thức Bắc, Hạ, Nam, Oán – như sau: 6 Bắc (Lưu thủy, Phú lục, Bình bán chấn, Xuân tình, Tây Thi, Cổ bản), 3 Nam (Nam xuân, Nam ai, Đảo ngũ cung còn gọi là Nam đảo), 4 Oán (Tứ đại, Phụng cầu, Phụng hoàng, Giang nam), 7 bản Hạ (Xàng xê, Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long ngâm, Vạn giá, Tiểu khúc).
[4] Trong thuật ngữ mà UNESCO dùng, họ luôn luôn gọi “inscribe” (“ghi vào” danh sách) trong các văn bản Quyết định, họ không gọi “recognize” (“công nhận”).



