Sấm truyền ca của Lữ Y Ðoan (1670)

15/10/2025 166 lượt xem

Chúng tôi có trước mặt hai bản chép tay bằng quốc ngữ của Paulus Tạo và Nguyễn Văn Nhạn do anh Hoàng Xuân Việt cho mượn nói là đã xin được hai nhà báo kể trên thuận trao lại cho anh.

  1. Một vài ghi nhận về tác giả, tác phẩm

Xuất xứ:

Bản Paulus Tạo: trang bìa chép Sấm Truyền Ca của thầy cả Lữ Y Đoan (viết năm 1670), sưu tầm của Trần Hớn Xuyên (1854-1940). trang kế đó có đôi lời giới thiệu (10 dòng) của Paulus Tạo, bị xé gần hết nên không rõ ngày chép, Sài Gòn, sau 15-9 (mất) Paulus Tạo, báo Nam Kỳ địa phận (NKDP). Trang sau chép: Lời tựa của Phan Văn Cận, người dịch bản Nôm ra quốc ngữ từ 1816 đến 8-12-1820.

Lời tựa của Phan Văn Cận:

“Truyền rằng sách Sấm Truyền Ca là của Thầy cả Lữ Y Đoan đặt ra năm 1670, viết bằng chữ Nôm.

Thầy cả này đã trở lại đạo hồi nhỏ và đã làm thầy giảng giúp địa phận Đàng Trong, thầy rất thông chữ nho, thuộc Tứ Thư, Ngũ Kinh, thầy làm sách này cho hạng văn nho đọc để biết rõ đạo Chúa Giê-su.

Năm 1672, Đức Vít vồ Lâm Biên Mộc phong chức Thày cả cho thày, lúc ấy thầy trên 60 tuổi, một trật với thày cả Manuel Bổn tại Ca Cham, Quảng Ngãi.

Sách này của thầy bị nhiều thầy cả Tây hồi đó không ưng vì nó lai sách đạo Nho và đạo Phật, nhưng bổn đạo rất ưa và chép lại để đọc.

Sau đó cơn bắt đạo nổi lên, có mấy gia thất chạy vào miền Nam ẩn tránh, cho đến năm 1810, tại Cái Mơn được biết có sách này, nhưng ít người đọc chữ Nôm. Đến năm 1816 nhiều thầy cả dạy tôi chịu khó viết ra chữ quốc ngữ, tôi vâng lời làm như vậy.

Nhờ chữ quốc ngữ nên bổn đạo chép theo được và ham đọc lắm, có nhiều người biết chữ Nho lấy làm hay, họ cũng xin chép để dành đọc”.

Tại Cái Mơn ngày 8 tháng chạp Tây, năm 1820.

Simong Phan Văn Cận

Tiếp theo là lời tựa của Trần Hớn Xuyên:

“Trải qua cơn bắt đạo dữ dằn đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, việc giữ đạo ở miền Nam phải âm thầm, sách vở ảnh tượng đều được chôn giấu.

Đến năm 1870 co người đào được tại Cái Nhum (Chợ Lách, Vĩnh Long) một hàm vô chủ, có nhiều sách vở về đạo thánh, trong đó có Sấm Truyền Ca, giấy đã mục nhiều, lúc ấy có ông Nguyễn Văn Thế chịu khó chép lại và truyền ra cho nhiều người biết.

Các linh mục Pháp thời đó không nhìn nhận là đúng với Kinh thánh nêm cấm bổn đạo vì sách dị đoan. Vì đó, Sấm Truyền Ca bị mai một.

Năm 1908, tôi tình cờ gặp quyển sách này tại nhà một bạn thân ở Cần Thơ. Đọc thấy lối viết của người xưa, theo cách cảm nghĩ của người Á đông, nhất là thầy cả Lữ Y Đoan là một linh mục rất giỏi về  Hán học, dĩ nhiên trong Sấm Truyền Ca là sự dung hòa giữa nền văn hóa Đông phương và Tây phương.

Tôi không nhận xét về mặt hợp hay không hợp Kinh thánh, tõi mến phục lối thơ lục bát của người xưa và cách dùng chữ An Nam hồi đó, đã lột được ý nghĩa của Kinh thánh cho người An Nam dùng cách dễ dàng.

Vì thế tôi đã xin chép lại để làm tài liệu quý giá, dành cho con cháu ngày sau đuợc biết ông bà xưa cũng đóng góp rất nhiều vào kho tàng quốc văn của dân tộc”.

Tại Cái Tắc ngày 17 tháng 5 năm 1910

Vêrô Trần Hớn Xuyên

Sau cùng là mấy nhận xét của Paulus Tạo:

Không rõ Simong Phan Văn Cận dựa theo tài liệu nào, đã viết:

“…Đức Giam mục Lambert de la Motte (Lâm Biên Mộc) phong chức linh mục cho thầy cả Louis Đoan (Lữ Y Đoan) một trật với Manuel Bổn vào năm 1672 …”.

Theo tài liệu cuốn “Histoire de la Mission de Cochinchine” của Adrien Launay, khoảng năm 1658-1823, các trang 197 đến 256 cho biết:

“… ngoài ba linh mục đầu tiên của địa phận Đàng Trong, do Đức Giám Mục Lambert de la Motte phong chức tại Chủng Viện ở Siam (Xiêm La quốc), là linh mục Joseph Trang (1668), linh mục Lucas Bền (gần cuối năm 1668) và Linh Mục Bổn (1672) thì chỉ có Linh Mục Luois Đoan được phong chức tại đất nước An Nam trước nhất ở Cacham (Kẻ Chàm) Quảng Ngãi, nhằm ngày lễ sinh nhật Đức Mẹ năm 1676. Người đã lớn tuồi, thông Nho học… và qua đời trong tháng 6 dương lịch năm 1678.

Có thể Sấm Truyền Ca được viết trong thời gian người làm thầy giảng đến năm 1670 mới hoàn thành và phổ biến trong dân gian. Người viết bằng chữ Nôm, bản chính không ai biết, chỉ biết do bản của Simong Phan Vãn Cận viết lại bằng chữ quốc ngữ năm 1820 tại Cái Mơn (Bến Tre).

Khoảng đầu thế kỷ XX, nhà in Công Giáo lập tại Tân Định (Sài Gòn) nhiều người muốn xuất bản các tác phẩm có đạo thời xưa, như các thứ vãn và tuồng… nhưng Sấm Truyền Ca vì viết theo lối cảm nghĩ, diễn tả theo văn hóa Á Đông mà người An Nam quen dùng trong văn chương nên không được các linh mục Lang Sa thuộc Hội thừa Sai Paris chấp thuận.

Lúc đó, linh mục Phao lồ Qui cố gắng sửa chữa, nhưng vấp phải nhiều từ ngữ quá xưa và danh từ riêng về tên người, tên xứ, tên núi, tên sông đã ghi âm theo cách An Nam rất khó thay đồi cho xuôi, thành thử phải đình trệ mãi. Linh mục Giuse Tràn Hiếu Lễ cũng sưu tầm nhưng không được đầy đủ lắm.

Phần tôi, nhờ bản sưu tầm của ông Phê-rô Trần Hớn Xuyên đã chép trực tiếp từ bản của Simong Phan Văn Cận và được người cháu của Linh mục Phao-lồ Qui ở Mỹ Tho giúp tôi một số tài liệu về Sấm Truyền Ca, do Linh mục sưu tầm và sửa chữa lại một phần”.

Paulus Tạo

(Tuần báo NKĐP)

Trang Bìa:

Lữ Y Đoan

Linh mục địa phận Đàng Trong

Sấm-truyền ca GENESIA

Quyển 1: Tạo đoan kinh

Khai sáng càn khôn, Tạo đoan phu phụ, Âm dương hỗ trợ, Sinh hóa trường tồn.

1670

Bản chép của Paulus Tạo gồm 185 trang. Các chú thích là của Paulus Tạo như chính ông đã xác nhận.

– Bản Nguyễn Văn Nhạn:

Mấy lời nói đầu do óng Nhạn ghi:

“Theo truyền khẩu, bổn Sấm Truyền Ca này do linh mục Louis Đoan (thầy cả Lữ-y Đoan) viết ra lối năm 1670.

Ngài là một nhà thông thái Hán học, gia nhập đạo Công-giáo lúc thiếu thời và tình nguyện làm thầy giảng buổi sơ khai Công-giáo Đàng Trong. Ngài viết nhiều tập thơ về giáo lý, giúp bổn đạo dễ bề học hỏi. Trong số đó, có bổn Sấm Truyền Ca rất công phu, ngài viết theo thể thơ lục bát là loại văn chương bình dân thời đó.

Ngài đúc kết theo cảm nghĩ và hiểu biết của dân tộc Á-đông; vì đó người ta nhận thấy bổn Sấm Truyền Ca là một hòa đồng văn hóa Á-đông và Khi-tô giáo. Hạng văn nho thời đó mến phục và thích đọc tác phẩm này, cũng có một số người trí thức đã xin theo Công-giáo.

Lúc ngài trên 60 tuổi, nhận thấy tài đức và lòng nhiệt thành, nên đức Vít-vồ Lâm-Biên-Mộc, (Đức cha Lambert de la Mothe) giám mục Địa phận Đàng Trong đã phong chức linh mục cho ngài, tại Kẻ-Chàm (Cacham) thuộc vùng Quảng Ngãi năm 1676.

Bổn Sấm Truyền Ca của ngài, đã bị các linh mục ngoại quốc thời đó chống đối, viện lẽ đã pha trộn nhiều tư tưởng ngoại giáo. Dầu sao cũng có người gìn giữ và khi chạy nạn cơn bắt đạo thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) ra lịnh cấm đạo Công-giáo rất nhặt năm 1701, họ đã mang theo vào đất Đồng-nai.

Sống len lỏi với thổ dân, tìm nơi hoang địa hợp nhau khai phá đất đai lập nghiệp sinh sống, theo cái thế da beo: việt đông thồ rút, việt rút thổ đông, chịu đựng biết bao gian lao khổ cực để sống và giữ đạo cách âm thầm.

Đến năm 1757, chúa Nguyễn Phúc Khoát hoàn toàn làm chủ vùng Thủy Chân Lạp (miền lục tỉnh) và phân khu hành chánh. Bấy giờ nhiều làng xã người Việt kê khai lên bản đồ đất nước, đồng thời các vùng Công Giáo cũng ra mặt như Cái-mơn, Cái-nhum, Mặt-bắc, Bãi-giồng … là những vùng đa số là người Công-giáo.

Bổn Sấm Truyền Ca còn được tìm thấy ở Cái-nhum, Cái-mơn thuộc Long-hồ dinh (hiện nay, 1956, thuộc tỉnh Bến Tre). Có người viết ra chữ quốc ngữ từ bổn gốc chữ nôm, và đã được chuyền tay nhau chép lại và phổ biến rất hạn chế, vì lẽ quá dài và ít người có đủ khả năng về văn hóa giữa thời Hán, Nôm và chữ quốc ngữ đang tranh giành chỗ đứng dưới chế độ Pháp-thuộc tại Nam-kỳ.

Bổn Sấm Truyền Ca này được chép lại nhờ linh mục Phao lồ Qui (địa phận Sài-gòn) cho mượn.

Lúc nhà in Công Giáo của địa phận Sài-gon mới thành lập tại nhà thờ Tân-định (Sài-gòn), nhiều giáo hữu và linh mục nhiệt tâm muốn xuất bản tác phẩm này nhưng qua nhiều lần thảo luận, không đi đến kết quả, vì hai lý do:

Vì chi phí quá nặng đối với nhà in còn nghèo, số vốn xuất bản không được đức Giám-mục sở tại trợ cấp. Kế đó, do ý kiến các linh mục Pháp không đồng ỷ, vì e bản dịch Sấm Truyền Ca không lột hết ý nghĩa của Kinh-thánh theo bản Vulgata.

Khoảng năm 1920-1930, tại Sài-gon có nhiều báo chí Công-giáo do giáo dân đảm trách, như nhựt báo Công- giáo Đồng Thinh của Đoàn Kim Hướng; tuần báo Cổng-giáo Tiến hành của Đoàn Công Chánh; tuần báo Dân-Nam của Tô Đức Thế; tuần báo Dân Hiệp của Nguyễn Cang Thường … và báo Nam-Kỳ Địa Phận là lờ liên lạc thông tin của Tòa Giám-mục Sài-gon do linh mục lãnh đạo, đã xuất bản từ đầu thế kỷ XX. Trong thời gian nầy, theo lời Paulus Tạo, ký giả Công Giáo đang giúp tuần báo Nam-Kỳ Địa Phận (Nhà thờ Tân-địnli, Sài-gòn) thì ông Trần Hớn Xuyên (họ đạo Cái-mơn, Bến tre) đã giao tận tay ông bổn Sấm Truyền Ca và yêu cầu có thể xuất bản hoặc đăng tải từng phần trên báo chí công-giáo, nếu có thể được.

Bổn Sấm Truyền Ca nầy không khác với bổn của linh mục Phao-lồ Qui bao nhiêu mà ông Paulus Tạo hiện có, do con cháu của linh mục tại Mỹ-tho giao lại. Bổn của linh mục Phao-lồ Qui thì có đánh số câu như Kinh thánh; còn của Trần Hớn Xuyên không có.

Bổn của linh mục Phao-lồ Qui, được Paulus Tạo chuyển lại cho báo Công-Giáo Tiến Hành, sau đó chuyển về báo Dân Hiệp. Nhưng rồi, vì nhiều lý do, nhứt là lý do tác phẩm quá lớn, gồm năm quyển đầu của bộ Kinh-thánh Cựu-ước; hơn nữa, tác phẩm bị chê là không còn hợp thời: thời tản văn đang tiến triển mạnh, đẩy lùi thời vãn vè vào quá khứ. Do đó bổn Sấm Truyèn Ca bị xếp vào tủ tài liệu của báo chí. Năm 1947, Nguyễn Cang Thường về giúp tạp chí Tông-Đồ, thì mang theo một mớ văn liệu, trong đó có bổn Sấm Truyền Ca.

Năm 1950, báo Tông-Đồ dời trụ sở từ số 6 đại lộ Luro đến số 1 đường Frère Guillerault, thì các văn liệu cũng được chở theo, xếp vào các kệ sách báo.

Thời cuộc biến chuyển mau lẹ, chiến tranh nối lên khắp nước, người ta chỉ còn lo sống với chết là vấn đễ quan trọng hằng ngày, mọi việc khác xếp lại tất cả.

Năm 1952, tòa báo Tông-Đồ bị bão làm sập đổ, văn liệu hư hại hơn phân nửa. Bổn Sấm Truyền Ca hư hỏng hoàn toàn ba quyển sau, vì bị nước ngập và mối xông phá, chỉ cò hai quyền đầu là Genesia và Exodus. Quyển Exodus bị mối tàn phá phân nửa.

Sau phong trào di cư năm 1954, nhà báo Tông-Đồ cất lại vào địa thế nhứt định, phía sau Nhà thờ Chợ Đũi (số 1 Bùi Chu, Quận 2, Sài-gon), thì các văn liệu còn lại chút ít tập trung về đó. Năm 1956, thấy bổn Sấm Truyền Ca này bị hư hao nhiều, tôi cố gắng chép lại, để kho văn liệu Công Giáo sau nầy khỏi thiếu một tài liệu quí giá của người xưa.”

Sài-gon ngày 15-10-1956

Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn

Báo Tông-Đồ (Saigon)

Bản Nguyễn Văn Nhạn gồm 239 trang, chép quyển 1: Tạo đoan kinh, và một phần quyển 2: Lập quốc kinh (Exodus từ trang 171 – 237) và ông Nguyễn Văn Nhạn than thở: “Rất tiếc, chép lại tới đây thì không còn thể nào mò ra được nữa, vì hơn phân nửa quyển Lập quốc kinh ( Exodus) bị nằm dưới nước, thấm ướt và mối gặm nát cùng số phận với ba quyển sau là Lévitique, Les Nombres và Le Deutéronome mà tôi không mò ra tên bằng tiếng Việt thời xưa do thầy cả Lữ y Đoan, địa phận Đàng Trong đặt ra.

Còn bao nhiêu thì ráng chép bấy nhiêu, để con cháu sau này còn nhớ tới công phu các linh mục thời sơ khai Công Giáo Đàng Trong, đã cố gắng xây đắp Hội thánh Việt Nam bằng trí óc với máu đào, trải qua biết bao giai đoạn khó khăn.

Nguyện xin Chúa Giê-su Ki-tô, Đức Mẹ Ma-ri-a, Thánh cả Giu-se và các thánh Tông Đồ, các thánh Tử Đạo, các thánh Tu hành phù hộ cách riêng Hàng giáo phẩm Việt Nam cũng như các linh mục toàn quốc”.

Chép xong ngày 20 tháng 12 năm 1956

Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn

Báo Tông-Đồ (Saigon)

Nhận xét:

Chưa tìm ra bản chữ Nôm,

Những bản quốc ngữ của Phạm Văn Cận, Trần Hớn Xuyên, Phao-lô Qui hiện nay cũng thất lạc. chỉ có hai bản chép tay của Paulus Tạo và Nguyễn Văn Nhạn, ông Nhạn cho biết Lữ Y Đoan đả dịch 5 quyển của Kinh thánh nhưng đã bị hư hại, chỉ còn chép được 1 quyền và một phần của Exodus.

Tìm hiểu thêm về tác giả, chúng tôi thấy có tài liệu gốc chứng tỏ tác giả có thực:

“Nam Kỳ địa phận” trong bài:” Đức giám mục tiên khởi miền Nam” khởi đăng từ số 19-12-1929, đến số 11- 09-1930 trang 511 thấy ghi: “Nơi Đức Cha (De la Motte) đi viếng sau hết là tỉnh Quảng Ngãi, ở đó người truyền chức cho thầy Louis Đoan là kẻ giảng Cụ Phúc thông minh đức hạnh. Cha mới này về vinh qui tại Kẻ Chàm bổn quán mình trong nhà người em, có đủ mặt giáo nhơn hăm bảy người trực hội hỉ hả linh đình”.

“Nam Kỳ địa phận” không ghi dựa vào đâu mà chép như trên.

“Les origines du Clergé Vietnamien” của Linh Mục Nguyễn Hữu Trọng, in tại Sàigòn 1959, luận án tiến sĩ thần học, có hai chỗ nhắc tới Louis Đoan và cho biết xuất xứ trích dẫn:

“Trước khi trở lại Xiêm, Lambert de la Motte truyền chức cho linh mục thứ tư ở Đàng Trong là Louis Đoan đã được Courtaulin chuẩn bị cho việc truyền chức”(trang 181-182)

“Lễ truyền chức duy nhất ở Đàng Trong trong thời kỳ này là của Louis Đoan, linh mục thứ tư ở Đàng Trong… Khi đi thăm viếng Quảng Nghĩa về, Lambert de la Motte đã truyền chức linh mục cho Louis Đoan “một trong những thầy giảng lâu năm nhất và là nhà nho lớn tuổi hơn cả của xứ này”. Louis Đoan làm lễ mở tay ở Cacham, ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ ở nhà của người em út “được trang hoàng rực rỡ với sự có mặt của quảng 500 giáo hữu thuộc thành phần ưu tú của tỉnh, như Courtaulin đã ghi lại. Tuy nhiên ông không sống lâu và qua đời hai năm sau vào tháng 6 năm 1678 vì là nạn nhân của nước độc” (trang 220)

Linh mục Nguyễn Hữu Trọng đã dựa vào: Launay, La Cochinchine trang 179.

Courtaulin  à Lambert de la Motte, 1767. Archi. M-E vol. 734, p. 178.

Relation de Courtaulin. Archi M-E vol. 735, p. 151.

Như vậy, người viết bài cho biết thầy cả Lữ Y Đoan, một trong 4 vị Linh Mục đầu tiên ỏ Đàng Trong, được truyền chức tại Việt Nam, còn 3 người kia: Joseph Trang, Lucas Bền, Manuel Bổn được truyền chức ở Xiêm. Ông chịu chức linh mục năm 1676 và mất năm 1678. Nếu được đọc những tài liệu gốc của Hội Thừa Sai có lẽ sẽ biết thêm chi tiết về Louis Đoan, đặc biệt là về bộ Sấm Truyền Ca, nghi là soạn năm 1670.

Những tài liệu gốc (hồ sơ lưu trữ của Hội thừa Sai Paris) không rõ có cho biết về Lữ Y Đoan là tác giả Sấm Truyền Ca hoặc về thái độ phê phán của các thừa sai đối với Sấm Truyền Ca hay chăng. Luận án của linh mục Trọng chỉ cho biết thái độ của các thừa sai đương thời đối với 4 linh mục đầu tiên ở Đàng Trong là không hài lòng, nhưng không nêu rõ cụ thề về điểm nào (tư cách hoặc tư tưởng). Một trong các thừa sai Courtaulin, cha chính địa phận đã có những phê phán gay gắt trong một thư gửi cho Giám Mục Lambert de la Motte: “Tôi cầuxin Thiên Chúa soi sáng cho Đức cha trong việc truyền chức cho linh mục ở Đàng Trong, và khi thấy do kinh nghiệm những người đã được truyền chức, tôi run sợ về điều sau này chúng ta sẽ có những linh mục tương tự hoặc tệ hại” (Courtaulin à Lambert de la Motte, tr 298. Les Origines du Clergé Vietnamien, trang 223).

Có nhận giả thuyết các thừa sai phê phán hoăc cấm đọc Sấm Truyền Ca, nhưng sách vẫn lưu truyền, được giáo dân hay người ngoài Công Giáo ưa thích đọc mặc dù thái độ phê phán, cấm đoán của thừa sai, mới hiểu tại sao Linh Mục Phao-lồ Qui nồi tiếng về thông thái đã nghĩ đến việc sửa chữa lại bản thảo của Lữ Y Đoan cho hợp với “chính thống” hơn về nội dung và dịch tên theo phiên âm để có thể in và phổ biến công khai Sấm Truyền Ca. Linh mục Phao-lồ Qui đã nhận xét Sấm Truyền Ca ra sao? Paulus Tạo và Nguyễn Văn Nhạn, đã trích lại mấy nhận xét của linh mục như sau:

Bản Paulus Tạo:

Thầy cả Lữ Y Đoan dựa theo Kinh thánh khá chặt chẽ, trừ những câu về tên riêng của dòng dõi các tổ phụ thì viết đại khái theo điểm chính.

Những câu không phù hợp tính dân tộc Annam, thì trình bày theo sự kiện mà người Á Đông quen dùng, chẳng hạn như ông Lót và hai đứa con gái của mình…

Về tên tiêng, không rõ chữ Nôm xưa viết như thế nào, chỉ theo bổn của Phan Văn Cận (1820) và tôi sửa lại theo lối phiên âm của các Linh mục Lang-Sa quen dùng tại Sàigòn hiện nay (1855).

Bản Nguyễn Văn Nhạn:

Khi đánh số câu theo Kinh thánh Cựu Ước, Linh Mục Phao-lồ Qui có nói: “Tôi có ý theo dõi Sấm Truyền Ca, để tìm hiểu ý chính của tác giả, là dựa sát Kinh thánh diên lại việc làm của Thiên Chúa trong thế gian, còn phần ghi gia phả các con gái ông No-e (Nhử Y) thì tác giả chỉ nêu nhãn vật và thành phố có tên tuổi trong lịch sử, đồng thời theo cảm nghi của người Annam thời đó, vạch rỏ hai trào lưu nồng cốt là Đạo và Đời đang song hành trong cuộc sống loài người. Tác giả viết cho người Annam đọc, không phải viết cho dân Giudêu (Do thái)”.

  1. Vận dụng văn hóa bản địa

Sấm truyền ca cho thấy hồi đầu truyền giáo, Nho học và chữ Nho, chữ Nôm đã được người Công giáo vận dụng thế nào. Ngay cả thời kỳ đầu Pháp thuộc ở Nam Kỳ, chúng tôi ngạc nhiên khám phá ra các sách báo Ðạo cũng vẫn thấm nhuần Nho học.. Chẳng hạn tờ Nam Kỳ địa phận cho thấy không những Nho học đã được giới thiệu một cách trực tiếp qua các bản văn, câu chữ Nho, mà còn chi phối về tinh thần trong các bài luận thuyết, truyện ngắn, truyện dài. Thật thích thú khi thấy ngay cả truyện Tàu cũng được Kitô hóa hấp dẫn như truyện Gioang Ngô Kim Thạch. Những dữ kiện này bắt buộc chúng tôi phải bỏ luận điểm mà chúng tôi đã đưa ra: chính sách dùng quốc ngữ, thủ tiêu Nho học, chữ Nho để cô lập người Công giáo với cộng đồng dân tộc
về văn hóa, đồng thời cũng bắt buộc bác bỏ luôn cả thiên kiến cho rằng miền Nam ít có truyền thống văn hóa dựa trên Nho học. Về điểm này chúng tôi cũng có khá nhiều dữ kiện chứng minh Nho học thấm nhuần sâu đậm trong lòng người ở vùng đất mới như thế nào (căn cứ vào những tác phẩm bằng quốc ngữ của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong công trình nghiên cứu mang tên “Hồ sơ về lục châu học, dựa vào tài liệu văn sử bằng quốc ngữ xuất bản ở miền Nam (1865-1930) nghiên cứu liên ngành tìm hiểu con người ở vùng đất mới” (bản thảo 1.000 trang, chưa xuất bản).

Nếu so sánh bản Sấm truyền ca của Lữ Y Ðoan với bản của Tống Viết Toại, Phúc âm ca, nhà in Thánh Tâm Huế 1955, sẽ thấy sự cách biệt một trời một vực về mặt Việt hóa, và trình độ nghệ thuật mặc dầu bản của thế kỷ XX được giám mục địa phận đề tựa và thư khen xã giao của Tòa Thánh, nhưng hình như ít ai biết đến.

Sự kiện trên cho thấy trí thức Công giáo ngày nay trong đó có chúng tôi, có thể có học vị chuyên môn am hiểu Thần học, Kinh thánh theo Tây Phương, nhưng lại ít vốn am hiểu văn hóa Việt Nam dựa trên Nho học so với các bậc cha anh đi trước: Lữ Y Ðoan, Phan Văn Cận, Trần Hớn Xuyên, Phao lồ Quy, Paulus Tạo, Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn.

Ðể giới thiệu Sấm truyền ca như một nỗ lực Việt hóa Ðạo Thiên Chúa ở thuở ban đầu (bằng cả hai nền văn học bác học dựa trên Nho học và văn hóa dân gian, dựa trên lối diễn tả bằng văn vần lục bát). Chúng tôi chỉ xin nêu ra một số ghi nhận về từ và trích dẫn những chú thích của hai nhà báo Paulus Tạo và Nguyễn Văn Nhạn.

Dịch tên riêng:

Tên riêng, nhất là tên người, muốn có vẻ Việt Nam thường được chọn đặt trong tinh thần chú ý đến những quy luật phối thanh phối vận, từ đẹp, thanh, có ý nghĩa, giá trị nào đó. Như vậy dịch theo phiên âm không thể đáp ứng những đòi hỏi trên. Thầy cả Lữ Y Ðoan đã chọn cách dịch có nghĩa cho có vẻ Việt Nam. Lối dịch này có thể không trung thực trong trường hợp tên riêng, không có nghĩa, mà gán cho có nghĩa, hoặc có nghĩa mà gán cho nó một nghĩa khác…

Chẳng hạn:

Tên người:

Adam dịch là: A dương có nghĩa nhập vào cõi dương tức là cõi hữu hình – gốc bản chữ Nôm… đọc trại ra là A dong hay A dâng.

Eve: Y-ba.

Caïn: Khả ân

Abel: An biên

Noe: Nhữ yên

Rebecca: Lan bạch, con gái của Lã bàng (Laban)

Dina: Thùy Nga

Lea: Lê anh

Laban: Lã bàng

Chérubin: Cơ biên

Isaac: Án giao

Jacob: Gia cước

Tên đất, tên vật:

Canann: Trà nam

Armenia: Am nha

Haran: Hà lâm

Sichem: Sĩ kiêm

Jordan (sông): Dự giang

Dan: Ðan thành

Salem: Sa liêm

Babel (tháp): Bá biện (bản Paulus Tạo) Hỗn lầu (Nguyễn Văn Nhạn).

Từ còn dùng:

Bá hộ, lão bộc, gia trang, gia nhân, gia thất, điểm tâm, cà nhắc, chính sách kinh tài, luật giang hồ, quốc gia, nam kha một giấc, xích thằng đã xe, biến cố, quốc giáo, lộ trình, chiến trường, quan san, tham mưu, xà ngầu, chè chén, đồng bào, toàn dân, phân quyền, phân công, lãnh đạo, dân sinh, dân tộc, tuyên ngôn, giáo chủ, giải phóng, xã hội, phóng thích, cảnh cáo, quốc khánh, phá sản, đàm phán, ý đồ, yêu cầu, (bẻ xiềng) nô lệ, (xây nền) tự do, hồ sơ, hành lý, kế hoạch, hoan nghênh, thất nhân tâm.

Từ cổ:

Từ dùng thời đó, bây giờ không còn dùng:

Chòi mòi: tò mò, tọc mạch, trong câu:

Ðáp rằng: Sao lại chòi mòi chi danh (c. 2052).

Kiết nhựt (c. 1522).

Từ ngữ dùng thô sơ, bây giờ vẫn còn thấy trong các sách kinh, sách đạo cũ, nên có thể làm cho hiểu lầm là tiếng nhà đạo, mà thực ra kinh sách truyện đạo chỉ dùng tiếng của ngôn ngữ đương thời:

Cả và: tất cả, trong câu: “Cả và thiên hạ nhờ dây phước lành” (c. 826).

Những kiểu nói trở thành thành ngữ, hoặc thuần túy Nôm, hoặc Hán Việt, đối hay không đối trong câu bốn chữ:

Ðèo heo hút gió
Cơm ăn áo mặc
Rẽ đàn tan nghé
Chén thù chén tạc
Tôi trai tớ gái
Ðẹp mặt nở mày
Gần đất xa trời
Bá láp bá xàm
Tiền trao cháo múc
Ăn ngon mặc ấm
Tình ngay lý gian
Gây thù chuốc oán
Mạnh ăn yếu chết
(c. 1648)
(c. 2789)
(c. 1908)
(c. 1976)
(c. 1802)
(c. 1263)
(c. 2309)
(c. 2375)
(c. 2430)
(c. 2582)
(c. 3085)
(c. 3462)
(c. 286)
Ðồng không mông quạnh (LQK 1220)
Sơn lam chướng khí
Miệng lưỡi Tô Tần
Tùy cơ ứng biến
Nghìn thu an nghỉ
Thiên thời địa lợi
Lương duyên tiền định
Xích thằng đã xe
Tam đa ngũ phúc
Thượng lộ bình an
Thống nhất san hà
Khẩu xà tâm phật
Hào hoa phong nhã
Tế thế kinh bang
Tiền hô hậu ủng
Cứu nhân độ thế
Mưu sự tại nhân
Dẫn thủy nhập điền
Thế thái nhân tình
Tâm đầu ý hiệp
(LQK 1431)
(LQK 261)
(LQK 278)
(c. 1174)
(c. 1258)
(c. 1276)
(c. 1276)
(c. 1308)
(c. 1307)
(c. 2353)
(c. 3486)
(c. 3498)
(c. 455)
(c. 2777)
(c. 2782)
(c. 3137)
(c. 3361)
(c. 2683)
(LQK 1370)

 

– Dịch (thích nghi) phong tục (dân gian) hằng ngày:

Mấy khay trầu nảo, mấy bình trà thơm (c. 3014)

Ruộng vườn sư sãi thì chừa (c. 3353)

Tới đây đông đảo ma chay khác thường (c. 3550)

Chú thích (CT) của Paulus Tạo: “người xưa mượn danh từ này để chỉ việc cúng tế linh đình theo phong tục người An Nam đối với kẻ chết. thật ra đám tang của Gia cước (Jacob) có thể theo tang lễ long trọng của dân Ai Cập xưa.

Ðoạn chào thiếu nữ, lệ hòa chứa chan (1674)

CT: Lm. Phao lồ Quy (1885) đã sửa lại: đoạn hôn thiếu nữ tuy sát nghĩa thánh kinh, nhưng không hợp phong tục An Nam, nên xin theo bản cũ dễ nghe hơn.
Hái về cho mẹ nhãn lồng chín thơm (c. 1760)

CT: Thầy cả Lữ Y Ðoan có dụng ý dùng chữ nhãn lồng một loại dây bò, trái ăn ngon có dược tính làm lcho ngủ ngon và trợ tim… để gọi chữ Mandagoras (một loại ngải mê làm bùa yểm)
trong Kinh thánh.
Giúp cho sen muống một nhà (c. 2165)
Tớ xui đạm bạc hầu ngài bữa cơm (c. 802)
Khách thầm cầm đũa dùng qua (c. 807)
Khóc la mặc khóc, họ ngồi ăn cơm (c. 2418)
CT: người xưa đã An Nam hóa bữa ăn, như dọn cơm, cầm đũa…
Thật ra, thời thượng cổ các giống dân ở vùng này ăn uống như thế nào không biết rõ. P.T.
Cầm đũa, tác giả viết cho người An Nam đọc, nên trình bày theo phong tục sinh sống của dân tộc mình, hầu cho giới bình dân dễ thông cảm. tr. 47, NVN.
Vua ban đại tự vàng son (c. 2781).
CT: Tác giả theo thói triều đình An Nam, khi vua ban tặng công đức vị quan nào hay bá hộ nào, thì người đó tùy tiện làm khuôn biển tô chọn chữ vua ban cho đó sơn son thiếp vàng treo giữa nhà.
– Dùng điển tích:
Chiến quốc, xuân thu
Chiêu binh, mãi mã, cung tên
Ðòi nơi chiến quốc, khắp miền xuân thu. (c. 458)
CT: Chiến quốc Xuân thu, hai thời kỳ của sử Trung Hoa dùng ghi lại các sắc tộc giành quyền sống, chém giết lẫn nhau, ưu thắng liệt bại, một cách ghê gớm vô nhân đạo. Tác giả mượn diễn tả cảnh tàn sát của các dân thượng cổ. (NVN)
Các giống dân luôn tranh bá đồ vương, không khác nào thời chiến quốc, thời xuân thu ở Trung Quốc ngày xưa (P.T, tr. 3?)
Hỗn lầu
Hỗn lầu danh gọi về sau
Kể từ việc ấy ngũ châu người tràn. (c. 489-490, Nguyễn Văn Nhạn)
CT: Lầu đài hỗn độn hay là cái tháp hỗn xược kiêu căng. Tác giả dịch nghĩa La ngữ chữ Babel (tháp Babel). Lm. Phao lồ Quy dùng chữ Babên thế vào chữ hỗn lầu. Chữ hỗn lầu tác giả dùng không có nghĩa cái tháp hỗn xược kiêu căng, nhưng mượn nghĩa câu sách xưa: “…cổ kim vị tất hồ thiên lực, duy hữu nhân gian hữu độn lầu”. (Xưa nay chưa chắc là đã có một thế lực bằng trên trời, trong cõi loài người chỉ có những lầu đài đầy dãy những lộn xộn, hỗn độn).
Ngôi cửu trùng
Ẩn long đã chọn một nơi
Cho dân tựu lại đến ngôi Cửu trùng. (LQK 1241-1242)
Ðồng bào giận dữ chi tôi
Ðó là thử thách đến ngôi chín từng (LQK 1315-1316)
Trong câu 2 sách dịch Nôm để giữ vần điệu.
CT: nơi vua ở, thâm nghiêm qua chín lớp cửa mới đến được.
Tầm Nguyên Tự Ðiển – Bửu Kế, XB. Nam Cường, Saigon, tr. 101.
– Sử dụng những câu chữ Nho
Bản P. Tạo
– Hữu tam bất hiếu, gọi chồng thở than (c. 714).
CT: Theo câu nói: “Bất hữu hữu tam vô hậu chi đại.”
– Ðây rồi, giai ngẫu thiên thành, (c. 1223)
CT: Do câu nói:… giai ngẫu tự thiên thành – lương duyên do túc đế.
– Chúc nàng thượng lộ bình an
Tam đa ngũ phúc rỡ ràng tông môn (c. 1307-1308)
CT: Lời chúc của người xưa: đa tử, đa tôn, đa phú quý. Tam đa nhập trạch đa gia đa. Ngũ phước: lời chúc của người xưa: phước, lộc, thọ, khương, minh: ngũ phước lâm môn phước thêm phước (bản NVN, tr. 70, cũng chú thích tương tự)
– Bẩm bà: “thiên hạ ngũ thường
Tôn ti đẳng cấp mới hơn thú cầm
Chữ rằng: vạn ác chi dâm
Hoàng thiên hữu nhãn, thiên tâm gặp lành. (c. 2587-2590)
Bản NVN
– Nhứt tâm hành đạo theo đàng lễ nhân. (c. 828)
CT: Câu này phù hợp với ý nghĩa một câu trong Nho giáo: “Thường bả nhứt tâm hành chính đạo, mãn thân ngũ đức lập chân tâm (mỗi ngày một lòng làm theo chính đạo (đạo của trời) suốt đời sống theo ngũ đức (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) để xây dựng một tấm lòng ngay thật).
– Ðúng như lời đã đặt ra,
Ðạo cao năm chục, bỏ qua tức thì. (c. 841-842)
CT: Có câu: đạo cao long hổ phục, đức trọng quỷ thần kinh.
– Hằng hà hiểu rõ thiệt hư
Tử sinh hữu mạng, sinh cư có trời. (c. 1051-1052)

CT: Tác giả lấy ý một câu trong Nho giáo:… tử sinh hữu mạng âm dương lập, bần phú do thiên đạo đức căn (sống chết có mạng tùy theo nhị khí âm dương tác thành, giàu nghèo do trời tùy theo cái gốc đạo đức mà ra).
– Nàng cầu thượng đế khoan nhơn
Bỗng nghe cảm ứng khuyên lơn mấy lời. (c. 1373-1374)
CT: Tác giả dùng chữ của Lão Tử, có huyền đồng mới có cảm ứng. Nếu không tin tưởng ở trời thì làm sao thấu hiểu lẽ huyền vi. Theo tinh thần, tư tưởng Nho giáo, Á đông (Tử vi, Kinh dịch, võ nghệ, thần thoại)
Bản P. Tạo
Không gian phát động mở màn
Thủy hành nhị khí rành rành dưới trên
Trên thì danh gọi cao thiên
Chiều đi mai đến tiếp liên chu kỳ
Thổ phân thủy lập biên thùy
Thổ là đại lục, thủy là đại dương
Lịnh ban hành mộc tự cường
Ngàn hoa vạn thảo ứng tường phát sanh. (c. 021-028)
CT: Nhị khí: Thanh khí và trọc khí; thanh khí nhẹ thì bay lên cao như sương như mây, trọc khí nặng thì đọng lại dưới thấp như nước, bùn sình.
Chu kỳ: do câu: “thiên địa tuần hườn, châu nhi phục thi”, chỉ một thời gian dài từ khởi điểm đến cao điểm, rồi từ cao điểm trở về khởi điểm. Khởi phát bắt từ âm cực, tức vô hình đến dương cực, tức hữu hình. Thầy cả Lữ Y Ðoan dùng chữ chu kỳ để cho rõ chữ “có buổi chiều (từ âm xuất) và buổi mai (từ dương hiện) là một chu kỳ” (… vespere et mane) đã dùng trong Kinh thánh.
Biên thùy: phân cương giới giữa nước và đất. Ngày xưa có câu hát: lưỡng hành thủy thổ qua phân, Thủy lai thổ yểm, đất trầm nước dưng… nói lên trật tự ngăn nắp ở đời, không ai xâm phạm ai.
Hành mộc: một trong ngũ hành, chỉ về tất cả cây cối, thảo mộc rong rêu.
– Tự căn hành hỏa chuyển vần,  (c. 033)
CT: hành hỏa: một trong ngũ hành, chỉ về tất cả những gì tự mình phát ra điện lực, quang lực, nhiệt lực, khí lực, động lực.
Khôn ngoan nắm vững đại đồng
Tam thiên vũ trụ vô cùng hòa sanh. (c. 063-064)
CT: Lm. Phao lồ Quy (1885) đã sửa lại:
– “Chúc lành tất cả kỳ công
Cùng là thanh hóa người trong trọn lành”, để cho sát nghĩa Kinh thánh tránh chữ “Ðại đồng tam thiên vũ trụ” là danh từ Nho giáo, Phật giáo mà các linh mục Pháp thời xưa hay đem ra bắt bẻ Sấm Truyền Ca của thầy cả Lữ Y Ðoan.
– Âm từ dương xuất nữ thời do nam. (c. 106)
CT: do câu nói xưa: “… dương thịnh âm khai, lưỡng nghi tương hợp, càn khôn chi xuất, vạn vật đồng lai”.
– Thấy cơn tàn phá hãi hùng
Tiểu thành Lộc bỏ chạy cùng hai con
Chui vào hang đá trên non
Buồn thì uống rượu quên cơn kinh hoàng
30 Ðêm nằm mộng thấy giàu sang
Ðược vua kêu gả một nàng mỹ nhân
Vu sơn đùa cợt gió trăng
Sáng ra uống rượu tâm can đỡ sầu
Mộng về lại thấy đêm sau
35 Có nàng công chúa đến hầu một bên
Hết lời ân ái trao duyên
Mây mưa chốc đã bên thềm trăng lên
Giựt mình thấy cản buồn thêm
Thành xưa cao lớn hóa miền hoang vu. (c. 923-936)
CT: từ câu 30 đến 35, người xưa viết theo lối thần thoại mà người Á đông quen dùng trong văn chương. Nhiều người dựa theo đây lên án tác giả đã viết sai Kinh thánh. Xét ra đây là loại sách giới thiệu Kinh thánh hơn là để nghên cứu, học hỏi.
– Ơn trên che chở việc đâu cũng lành. (c. 2004)
CT: Gia cước vừa theo sự khôn ngoan sắp xếp công việc của mình vừa cầu xin Thiên Chúa phù hộ, không tự đắc hoặc đánh liều.
Ðúng như tinh thần người Á đông xưa có câu: “Phối thiên hành sự, như thử thành công” (cùng với trời mà làm việc như thế là thành công).
– Thiên hành như thử, người đời phải theo. (c. 3572)
CT: Trời làm như vậy, người cãi được nào, thiên cổ nam đào phải tri thiên mạng, đừng đem lòng oán mà phải khổ thân (bài vè cổ)
– Tích xưa cho thấy vấn đề
Sự đời sự đạo đi về với nhau
Ðời thì danh lợi xôn xao
Ðạo thì trầm lặng để cầu ý hay
Thế gian phải có mặt này
Hầu coi thắng lợi về tay ông trời. (c. 3601-3606)
CT: Người xưa nhìn vào Kinh thánh theo quan niệm “mưu sự tại nhân và thành sự tại thiên” nên đã hạ bút kết luận quyển Tạo đoan kinh (Genesia) một câu như thế.
Bản NVN:
– Ðặt nền phu phụ đoan hành
Mở màn đã thấy dữ lành chống nhau. (c. 225-226)
CT: đoan hành, mới đầu nhân loại do câu: tạo đoan hồ phu phụ.
Lm. Quy đánh số đoạn 5 này, cốt ý để theo dõi Kinh thánh Cựu ước, thật ra ý tác giả theo quan niệm Á đông vạch rõ hai con đường lành dữ song hành.
– Lộc trời vì có giảm phần
Cho nên ám họa tung hoành dương gian. (c. 287-288)
CT: Câu này do quan niệm đạo lý thời cổ: dương gian cường thú tính, âm họa thịnh tai ương. Vì đó mà các linh mục ngoại quốc thời tác giả cho là Sấm truyền ca bị ngoại giáo hóa.
– Bởi đời phản bội lẽ ngay
Muôn loài cầm thú mang tai số phần. (c. 387-388)
CT: Trong dân gian thời đó, cũng có câu tương tự: “thú cầm số mạng tùy nhân lập, họa phúc giai do nghiệp báo lai”. Lm. Phao lồ Quy xưa có phê bình Sấm truyền ca không hoàn toàn là một bản dịch, mà là tác phẩm dựa vào Kinh thánh sáng tác theo ý tác giả.
– Nhân gian ngạo nghễ thiên đường
Trời rằng: Hiệp nhứt vi cường, đại công. (c. 483-484)
CT: Tác giả mượn ý ở câu sách xưa: “Hiệp lực vi cường, đại công nhứt trí” (góp sức chung lại thì tạo ra sức mạnh, sự việc to lớn là nhờ một lòng một ý với nhau)
– Thế là: nhứt hữu cửu vô
Thế nhân bỏ cuộc, trở cờ chống nhau. (c. 487-488)
CT: Tác giả mượn ý ở câu sách xưa: “Nhứt hữu cửu vô thiên hạ tận, đa ngôn thiểu dụng nghiệp vương tàn” (một người có chín người không thì cuộc đời bế mạc, nói nhiều mà làm ít thì nghiệp vua chúa (chinh quyền chế độ) cũng tiêu tàn.
– Xuân lài buồn việc không con
Hữu tam bất hiếu, gọi chồng thở than. (c. 713-714)
CT: Tác giả mượn ý một câu trong xã hội Á đông: Bất hiếu hữu tam, vô hậu chi đại (tội bất hiếu có ba, mà tội không sinh con nối dõi là nặng nhất).
– Có người đạo nghĩa trung can
Thì trời tha phạt cả thành yên vui. (c. 861-862)
CT: Cuộc đối thoại giữa Khách thần và ông Bá lâm là vấn đề tôn trọng kẻ lành, như câu tục ngữ thời đó: “…vạn ác thú viết vô, nhất thiện nhân viết hữu” (Muôn kẻ sống như thú vật kể như không, mà một người sống lành là quý báu vậy). Trong xã hội An Nam thời đó cũng có câu: Một làm quan cả làng cũng đỡ, một giàu có cả họ cũng vui.
– Lệ anh với mối tình đầu,
Nhưng về hào tử gặp sao thai thần. (c. 1727-1728)
CT: Tác giả mượn danh từ khoa tử vi, sao Thai thần, chỉ người thành về hào tử, có kiết tinh phù hộ. Sách phong thần của Trung Hoa gọi sao Thai thần vốn là tướng Cơ Phúc Lễ. Vì cách dùng chữ theo văn học Á đông, nên các linh mục ngoại quốc thời đó chống tác giả.
P. Tạo cũng chú thích: Theo khoa Tử vi, sao Thai thần chiếu vào cung tử thì hào con rất đông, mau con.
– Trời cho hào tử, hào tài
Lưỡng hào đại phát, đã sai tôi về. (c. 1993-1994)
CT: Tác giả dùng từ theo Kinh Dịch, vì thế nhà Nho xưa khâm phục, cho rằng tác giả dựa Kinh thánh Cựu ước mà viết ra theo trình độ hiểu biết và hòa đồng tư tưởng hai bên.
– Lẹ làng điểm huyệt cho xong
Gia-cước té xuống nhưng không chịu hòa. (c. 2041-2042)

CT: Từ của môn võ nghệ, đánh vào chỗ nghiệt đối thủ, Gia cước bị điểm huyệt nên xẹo đùi đi cà nhắc.
– Một ngày vào tiết hoa khai
Phan vương hạ lịnh giam hai cận thần. (c. 2631-2632)

CT: Tiết hoa khai, mùa trổ hoa tức mùa xuân, do câu hát cổ: “… Hoa khai hồ mãn địa, tri xuân giả thế nhân” (thấy hoa trổ khắp nơi, người ta biết mùa xuân tới).
– Không cần thế lực đao gươm
Chỉ cần nhẫn nại tay không cũng thành. (LQK 229-230)
CT: Theo quan niệm Á đông:… Hữu chí kinh quyền nhẫn, bất chiến tự nhiên thành.
– Áo quần cung cấp gái trai
Ðó là cái thế vần xây luật trời. (LQK 233-234)
CT: Sách Ðạo Ðức Kinh của Lão Tử có câu:… Cao tất hạ, đa tất thiểu.
– Yết dân qua biển ráo chân
Giếp quân xa mã rầm rầm đuổi theo. (LQK 1087-1088)
CT: Tác giả viết theo lối hành quân Á đông, có bọn quân sư thông dịch kinh dịch, tìm hiểu hiện tượng nước biển rẽ hai: một bên như vách thành và một bên chảy cạn là nhằm giờ sao Giác mộc giao (là con sấu) chiếu thẳng cặp giao long (là con rồng) nên xuất quân. Tác giả muốn
nói cái dị đoan chống với sự thật.
– Chiêm tinh, bói toán:
Nhìn ra trời đã hừng đông
Vua bèn triệu tập hội đồng bói khoa
Những nhà thuật số: huyền gia
Chiêm tinh đoán mộng cả và Giếp tô,
Nhà vua thuật lại mộng cô
Yêu cầu đoán giải cân đo tượng điềm
Tung ra dịch tượng, quẻ kiền
Lục hào, thái ất, cửa huyền, đạo gia. (c. 2701-2708)
CT: Bản NVN, chép: Cửa hào tha, vì Lục hào theo bản P.T cả hai người đều không chú thích: điều đáng lưu ý ở đây là Thầy cả Lữ Y Ðoan đã dùng những khái niệm của Á đông để trình bày khoa chiêm tinh, bói toán của Thượng cổ Ai Cập Trung Ðông.
– Theo tinh thần phong cách Việt Nam (ca dao, tục ngữ, vãn, vè, câu hát).
Bản P. Tạo:
– Vui trong cảnh xế vợ chồng
Ðặt tên I-giác cầu mong đắc thành. (c. 1007-1008)
CT: Xưa có câu hát:… vợ chồng già mà sinh con muộn, của trời cho lo hưởng là vừa.
– Lara đã có lời bàn
Thì nghe theo đó cho an cửa nhà. (c. 1029-1030)
CT: Có câu nói xưa: “Người ta thời tính nước liều, biết đâu cái rủi có nhiều cái may” nói lên bàn tay của trời ở đây cũng có, luôn luôn thực hiện song song với công việc loài người. Ðời trước cũng có câu na ná trường hợp này: “Nhân sự bày ra cái dại, thiên cơ sửa lại thành khôn”. Ðời làm vô lý, nhưng trời làm có ý nghĩa hay.
– Aga hiểu rõ thiệt hư
Tử sinh hữu mạng, sinh cư có trời. (c. 1051-1052)
CT: Xưa có câu ca dao: “Hỡi ai không biết số trời, nếu ai không có làm người được không?” Ở đây thấy có định mạng, nhưng định mạng không phải vô ý thức, mà do đức độ của Abraham tác thành trong định mạng của Ismael.
– Ðến vùng kiều ngụ Raham
Hai bên gặp gỡ luận bàn sống chung. (c. 1061-1062)
CT: Có câu tục ngữ:…”Tách bước gặp đường cùng – đi chung thì được sống”. Ý nghĩa sống chung của người xưa là như thế. Nhưng trong trường hợp này, Ma Liệt, Than cơ thấy thế lực của Abraham quá mạnh (vì có trời làm hậu thuẫn) nên họ sợ bị đè bẹp. vì đó họ đến xin lập hòa, với ý “dĩ dục hườn cầu mưu, chờ cho địch yếu mới thủ đem ra…”
– Cộng thêm ba chục con lừa
Giao cho đầy tớ dắt đưa từng bầy… (c. 2023-2024)
CT: cách thức Gia cước nghĩ ra không khác nào tâm lý chung của người đời. Ngày xưa An Nam có câu:
Tị hiềm mặc kệ, cao lễ dễ thưa
Từ nhà dở đến triều vua
Ða kim ngân phá luật lệ.
(Nhà dở hay là dở làng là trụ sở của hương chức làng họp nhau).
Bản NVN
– Cao xanh đại lượng hằng soi
thuận thiên thức giả, xây đời hanh thông. (c. 401-402)
CT: Cao xanh, từ văn chương thời xưa, tác giả dùng chỉ Thiên Chúa, cho tác phẩm văn vần đỡ nặng nề và nghèo chữ. Các linh mục ngoại quốc thời đó chê thầy cả Lữ Y Ðoan hiểu biết Thiên Chúa rất mơ hồ vì thiếu thần học.
– Qua mùa xuân ấy thọ thai
Hằng sa lên mặt, Xuân lài ghen tương. (c. 721-722)
CT: Câu hát xưa trong dân gian, nhứt là đồng quê An Nam: “… Cay co không phải trái cà, ghen tương là thói đờn bà xưa nay.

– Ích manh, Y giác trong nhà
Một cha khác mẹ thuận hòa anh em
Xuân hoa có dạ hờn ghen
Xúi chồng “hãy đuổi kẻo phiền về sau
Ích manh thừa kế làm sao
Vì là mẹ nó nàng hầu mà thôi”. (c. 1017-1021)
CT: Trong dân gian xưa có câu hát: “Nhỏ mọn như bụng đàn bà, lúc xuân cay ớt, lúc già chua chanh.
– Ðến vùng Kiều ngụ Bá-lâm
Hai bên gặp gỡ luận bàn sống chung. (c. 1061-1062)
CT: Tác giả dùng chữ “sống chung” ở đây là chữ tóm tắt một thành ngữ An Nam đã có lâu đời: “Canh tiều ngư mục trăm đường sống, – Quyền lợi tương đồng một ý chung”.
– Nhờ ơn phúc đức tông đường
Ông bà đạo nghĩa cháu con sang giàu. (c. 1355-1356)
CT: Trong xã hội An Nam cũng có câu: Ông bà kiếp trước khéo tu, – Cho nên con cháu võng dù hiên ngang.
– La-cương hận quá trách chồng
Mang danh gái độc không con thế này. (c. 1735-1736)
CT: Tục ngữ An Nam: Cây độc không trái, gái độc không con.
– Ỷ quyền, bóc lột bất công,
Trước chia sớt của bổ đồng công lao. (c. 1861-1862)
CT: Trong dân gian ở An Nam xưa có câu hát: “Lường thăng, tráo đấu, cướp công, – Trước sau trời cũng bổ đồng phân minh”. Lại có câu: “Ai ơi chớ khá tranh giành, – làm ác gặp rủi, làm lành gặp may”.
Văn chương mang tính chất Việt Nam
Xét về phương diện văn chương, rất nhiều câu thơ tả tình tả cảnh của Sấm truyền ca cho thấy một bút pháp quen thuộc gần gũi thường gặp trong các tác phẩm Nôm nổi tiếng vào thời kỳ đó, chẳng hạn:
Buồn trông vật đổi sao dời
Dư đạc vợ chết, lẻ loi tháng ngày. (c. 2491-2492)
hay
Canh gà vừa gáy hừng đông
Nàng về sống cảnh góa chồng như xưa. (c. 2511-2512)
hay những câu thơ có đối chữ
Bấy lâu Gia cước âm thầm
Mong chim chắp cánh, ước cành liền cây. (c. 1693-1694)
– Bạn bè mừng chúc rể dâu
Hoa xuân thắm nhụy, vườn đào mặn duyên. (c. 1709-1710)
Và sau cùng, tả cảnh biệt ly, bằng những hình ảnh thật quy ước, rất quen thuộc… theo lối văn xưa.
Tạ từ vó ngựa lên đường
Sương mai phủ kín dặm ngàn đôi bên. (c. 1981-1982)
Trích một vài câu đây đó, chưa đủ cho người đọc cảm nhận tính cách quen thuộc gần gũi của tập thơ Nôm này, về phong cách, phong cảnh cũng như về cốt truyện, nội dung những sự việc được mô tả.
Chúng tôi xin trích dẫn một đoạn tả việc đính hôn kết tóc xe duyên dựa trên quan niệm tin vào duyên số trời định, cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, người con gái ưng thuận lấy chồng trước khi biết mặt chồng. Tinh thần, quan niệm, tâm trạng, bút pháp của đoạn văn đều thấy một cảm nhận
rất quen thuộc gần gũi mặc dầu nó là truyện xảy ra ở thời thượng cổ, bên Trung đông, chỉ có một vài chi tiết xa lạ mà tác giả không thể thay thế được là lạc đà, cừu chiên… nhưng dùng mãi cũng sẽ quen thuộc với những tuyết, lê… mặc dầu ít ai thấy được tận mắt những sự vật đó không có ở Việt Nam.
Chúng tôi trích một đoạn chương 24, kể lại việc Tổ phụ Abraham ủy nhiệm cho người lão bộc trung tín về quê nhà tìm người con gái xứng đáng để gả cho con là Isaac.

Ðường trần kẻ lại người qua
Tháng ngày chất nặng tuổi già Bá-lâm.
Sống trong lộc thưởng trời ban
Người xa mến phục, kẻ gần kính tôn.
Vả chăng, Y-giác thành nhơn,
Bèn kêu lão bộc tận trung dặn dò:
“Nay bề gia thất phải lo,
Thề cùng Thượng đế giúp cho rỡ ràng.
Chẳng hề cưới gái Trà-nam,
Nơi mình cư ngụ, hãy sang quê nhà,
Tìm trong thân tộc của ta,
Một trang thiếu nữ nết na, đạo dòng”.
Rằng: “…nàng, nếu chẳng theo chồng,
Thì đem Y-giác về cùng được chăng?”
“Ðừng đem nó tới quê nàng,
Vì chưng Thượng đế đã ban xứ này,
Nên ta lìa tổ tới đây,
Vậy trời lo liệu dịp may cho mình.
Dầu sao cũng phải thiệt tình,
Không đem Y-giác đăng trình nơi đâu.”
Nghe qua lão bộc cúi đầu,
Quyết theo lời chủ, trước sau chu toàn.
Mấy ngày xếp đặt hành trang,
Lạc đà một chục, gia nhân tùy tùng.
Chở đầy lễ vật cầu hôn,
Trẩy theo san đạo qua vùng Mạch-tam.
Trăng non rồi lại trăng rằm,
Ðoàn người hạ trại nghỉ gần giếng trong.
Mỗi ngày quá xế hoàng hôn,
Từng đàn phụ nữ dập dờn tới đây.
Ðua nhau gánh nước về xài,
Lão bộc thầm nguyện “bàn tay nhiệm mầu”.
Giúp cho biết thiếu nữ nào,
Mà trời duyên định làm dâu chủ nhà.
Gặp nàng tôi sẽ thốt ra,
Cho tôi uống nước, lạc đà gia nhân,
Nàng nào vui vẻ sẵn sàng,
Ðó là dấu hiệu Trời ban, – tôi tường.
Tới lui mấy lượt má hường,
Có người con gái khiêm nhường nết na,
Cũng đang gánh nước về nhà,
Lão bộc đón lại, nói qua mấy lời:
“Xin cô thí nước giúp tôi,
Lạc đà và cả đoàn người của tôi”.
Nghe xong cô gái tươi cười,
Lẹ làng giúp đỡ như người đã xin.
Nhọc nhằn chẳng nệ công linh,
Giếng sâu múc nước xuống lên mấy lần.
“Ðây rồi, giai ngẫu thiên thành.”
Thế là lão bộc tới gần hỏi thăm:
“Dám nào cho biết quý danh,
Ðêm nay xin trọ, gia trang thế nào?”
Tiếng oanh đáp lại ngọt ngào:
“Tôi là Lan-bạch, tuổi đầu đôi mươi,
Bồ-tuân, thân phụ của tôi,
Cũng là cháu nội Nã-khôi vùng này.
Nhà tôi rơm cỏ dư đầy,
Có nơi rộng rãi, vườn cây diềm dà.”
Lảo bộc cẩn thận đưa ra,
Nữ trang kim xuyến, gọi là đáp ân.
Ơn trời đãi ngộ Bá-lâm,
Dắt tôi đến thẳng thân nhân chủ mình.
Trở về Lan-bạch thưa trình,
Cho cha mẹ biết sự tình xảy ra.
Lã-bàng anh ruột nghe qua,
Thấy em vàng xuyến nhởn nha rỡ ràng.

Liền đi ra giếng vội vàng,
Gặp ngay lão bộc, hỏi han thỉnh về;
“Bác, người Thượng đế chở che,
Ghé qua nhà cháu mọi bề khỏi lo.”
Sách trời tiền định ai ngờ,
Bao năm xa cách bây giờ gặp nhau.
Lão bộc cảm tạ, theo sau,
Tới nơi gia chủ tiếp vào gia trang.
Lạc đà và các tùng nhân,
Nơi ăn chỗ ở sẵn sàng nghỉ ngơi.
Hàn huyên trao đổi rộn lời,
Cỗ bàn đã dọn chủ mời dằn tâm.
Lão bộc từ tốn phân trần:
“Trước khi cầm đũa tôi cần trình qua.”
Bồ-tuân: “…xin cứ nói ra”
Lão bộc thuật lại việc nhà Bá-lâm.
Kể từ dấn bước phong trần,
Thiên thời, địa lợi, nhân tâm có thừa.
Cuộc đời dầu gặp gió mưa,
Bàn tay Thượng đế giúp chưa lâm nàn.
(c. 1175-1260)

[Trích từ VẤN ÐỀ CÔNG GIÁO ÐẶT CHO DÂN TỘC. 1988]

* Nguyễn Văn Trung
Tài liệu tọa đàm Sấm truyền ca (1670) của linh mục Lữ Y Đoan (1608-1678)