Em đã cố khóc sao cho không phát thành tiếng, nhưng thế thì khóc nó không có đã. Em muốn òa lên, làm vỡ tung cái khoảng không chán ngắt và buồn bã nơi xứ Huế thần kinh này, nhưng em không thể. Giữa nỗi cô đơn tuyệt vọng, thâm tâm em lần lượt hiện ra những con người em trân quý, những ngày tháng yên bình một thời. Em nhớ ba má, nhớ chị Hai, cu Út, nhớ bữa rau bữa cá đậm đà tình thân và, nhớ cả cái gió nóng Phú Yên quê nhà.
Em cũng nhớ lại mình, nhớ về cái sự lì lợm không biết nghe ba nghe má. “Bữa nào mầy hối hận rầu, má khi đó cũng chớt rầu, không sống lại mà đỡ cho mầy được đâu nha con!”. Má mất thiệt kể từ ngày em lên xe hoa ra Huế cưới chồng. Trước đó má buồn nhiều lắm. Không buồn sao được khi em bỏ lớp dự tu để yêu đương. Không buồn sao được khi người em cưới lại là thằng vô đạo. Nỗi buồn không chồng chất sao được khi em quyết chí theo cái thằng đó ra Huế, xa ba má, xa gia đình, xa cả vùng đất đã nuôi em khôn lớn cho đến tận hôm nay.
Khóc chưa thỏa, em đã cười. Em cười khẩy khi nhớ lại mình ngày xưa. Ngày mà chưa vấp phải khúc gỗ của tình yêu để rồi ngã sa vào lòng Tân, em đã từng muốn khoác lên mình bộ tu phục Dòng Mến Thánh Giá. Vậy mà giờ đây, Chúa gửi Thánh giá tới thì em muốn gục ngã. Em trách Chúa. “Sao mà để con chọn cái kiểu ngu dữ dẫy. Sao mà đưa cho con cây Thánh giá nặng dẫy. Sao không tiếp thêm cho con chút sức để con gánh nẩu hơn chớ.”
Nhớ khi em cưới Tân, chùm xóm ở Huế khen dữ lắm. “Ở cái nước Huệ ni, có được đứa con dâu nói mà như hát thì gia đình vui lắm bây ơi”. Người ta mê em, khen em vì cái giọng lanh lảnh, khác xa với cái giọng đặc sệt đến nặng nề của người ta. Nhưng cơm ăn mãi cũng chán, ngay cả bài hát hot-hòn-họt đó nghe mãi cũng nhàm, thì chất giọng vùng miền lạ lùng của em cũng đâu ngoại lệ. Hơn nữa, em biết người ta ít muốn lại gần em vì em có đạo. Ở cái nơi mà chùa chiền nhiều hơn chợ, em chẳng khác chi kẻ lạc loài, mà em đích thị là kẻ lạc loài. Đã thế, em lại còn là giáo lý viên phục vụ cho một xứ đạo cách đó gần mười lăm cây số nữa chứ. Ô may là em vẫn giữ được lời hứa với má khi hai má con tâm sự cùng nhau.
– Má biết sao hông? Con ra Huế, cũng y như gương anh thầy Anrê Phú Yên nhà mình dẫy, con đi truyền đạo ngoài đó. Con hổng làm được bà Sơ thì con cũng đi giảng đạo mà má.
– Má mong mầy đừng có bỏ đạo là má mừng dữ lắm rầu, chớ má có dám trông mầy đi truyền đạo cho ai đâu con quơi.
Em thấm thía từng chữ một mà má lôi từ trong lòng trong ruột ra nói với em. Em nhớ má quá chừng quá đỗi à. Em ước má ở đây, dù là một giây thôi, má hiện ra la rầy hay đánh em cũng được, để em biết chừa lần sau nghe lời má hơn.
Tân thương em nhiều. Tân cũng thương mạ anh ấy nhiều như em. Tân nghe lời em, nhưng Tân nghe lời mạ hơn. Chữ hiếu và chữ tình làm sao nặng ngang nhau khi ở trên vùng đất Huế này cơ chứ. Mẹ Tân là phật tử thì làm gì có chuyện để con dâu dễ dàng thờ một ông Chúa phương Tây ngay trong nhà mình. Tân chỉ biết an ủi em mỗi khi chỉ có hai vợ chồng trong phòng kín khóa trái cửa. Tân hứa sẽ cố làm có tiền và xin mạ ra riêng, để em vui. Nhưng em biết, mẹ Tân chỉ cần gằn giọng là anh ấy lập tức hiện hình thành chú mèo con chạy quanh chân chủ ngay. Em lại càng cố nuốt nước mắt vào trong.
Có một sáng Chúa Nhật, em cuống cuồng xới tung từng ngăn tủ để tìm cuốn giáo án giáo lý. Tim đập thình thịch, mắt em đỏ hoe vì lục lọi khắp nơi vẫn không thấy. Em chạy xuống bếp, bấu víu chút hy vọng mong manh rằng mẹ chồng sẽ biết. Nhưng ruột gan em thắt nghẹn lại ngay khoảnh khắc nhìn thấy bà đang nhen lửa bằng chính những trang giấy của cuốn giáo án. Em gào lên trong khi bà cười: “Mạ có biết mô, mạ không biết chữ nên không biết cuốn ni của con.” Không biết chữ? Bà không biết chữ mà bà tụng kinh cả ngày cả đêm sao, bà không biết chữ mà lời gièm pha nào trên sách báo cũng đọc vanh vách sao. Lúc đó, em thật sự đã kêu xin Chúa, xin rằng cho em ngưng làm người trong vài phút, chỉ để trở thành một con thú điên dại lao vào bà ta cắn xé cho lại máu, cho bớt ngứa gan. Với sức vóc từng bốc vác cả tạ cá phụ ba hồi ở quê, em thừa sức xô dụi cái hình bóng gầy nhom khốn nạn ấy vào đống lửa. Em đã muốn làm thế. Em đã nghĩ đến cái cảnh bà ta cháy ra tro như cuốn giáo án. Nắm đấm em đã siết chặt. Chỉ còn một bước nữa thôi. Nhưng… em đã không làm. Phải chăng cái gì đó vô hình kìm giữ em lại? Có lẽ là má đã kể cho em nghe quá nhiều về Anre Phú Yên thuở xưa, một người hiền lành như chiên non, bị chém đầu mà vẫn tha thứ cho kẻ sát mình, để rồi giờ đây, em nhớ về người, nhớ gương sáng của người. Em quay lưng đi và để cục tức từ từ xẹp xuống.
***
Mỗi sáng Chúa Nhật, em dắt xe ra khỏi nhà giữa những ánh nhìn soi mói như kim châm của hàng xóm, ánh nhìn dành cho một con đàn bà ngoại tình. Em không hiểu và vẫn vô tư cười hiền đáp trả những ánh mắt ấy. Cho đến khi tim em bẽ bàng rồi vụn vỡ vì biết chính mẹ chồng là người rỉ tai thiên hạ rằng em lén lút với trai. Cái mím môi cười của em họa lên sự uất ức và chua chát. Bà ta không thương em đã đành, chẳng lẽ chồng em, đứa con trai bà đã dứt ruột sinh ra, bà cũng không thương? Bà ta muốn hạnh phúc của con mình tan nát chỉ vì vợ của nó sống đạo và dành thời gian rảnh để đến nhà thờ đi lễ, dạy giáo lý sao?… Nhưng em tự nhủ bản thân không cần thiết phải để tâm nhiều vì dẫu sao em còn Tân. Tân sẽ động viên em, như mọi khi em buồn, trong căn phòng đóng chặt kín cửa.
Thế rồi, chính niềm tin mà em đặt vào Tân, đã đẩy đưa em vào thế giới của sự chới với chất ngất tủi hờn. Người chồng mà em tin rằng sẽ là người quan trọng nhất và duy nhất đứng về phía mình, đã mù quáng chạy theo những lời đồn đoán nghiệt ngã đó. Và rồi, chuyện gì đến cũng đã đến, Tân khinh bỉ, vả vào mặt em, điều mà từ trước đến giờ anh chưa từng làm. Có ai nhìn em lúc này mà không giật mình xót xa. Và, có ai đủ tinh tế để thấu hiểu những nỗi đau em phải mang lấy. Những nỗi đau thân xác tê tái, nhức nhối nhưng nó sẽ chóng lành. Thế còn, những vết thương lòng làm sao chữa khỏi? Nếu nói tâm hồn em giờ như một kẻ lạc lối trong màn sương lạnh lẽo vô định hay tựa ngọn đèn lay lắt giữa trời bão giông, thì tất cả đều không thể diễn tả sao cho đúng tâm trạng em đang ôm lấy. Nhưng dẫu sao, lối so sánh ấy phần nào đã phản ánh đức tin của em. Tâm hồn em có lẽ đã trở nên xác chết cô độc dưới màn sương lạnh, hay là như ngọn bấc ướt sũng ngậm đầy gió giông, nếu không có Chúa. Em sưng cả mắt không phải vì không ai tin em thanh minh. Em nức nở cũng chẳng vì Tân mù quáng. Em thắt lòng càng không phải do sự tăm tối của cuộc đời. Nhưng là vì họ so sánh Chúa của em như là kẻ phá hoại hạnh phúc gia đình em. Em đau đáu và u uất vô cùng.
***
Trong lòng em bây giờ, một sinh linh Chúa ban đang ươm mầm chờ ngày chào đời. Mầm non hồng ân ấy đang thắp lên cho em những ánh sáng của niềm vui, hi vọng. Em tin có Chúa nâng đỡ và đứa bé lại là một nguồn động lực mạnh mẽ cho cuộc sống của em. Thế rồi niềm hy vọng trong phút chốc sớm nở lại ngay lập tức héo tàn khi Tân thầm thì với em. Tân rủ rỉ bên tai mà chẳng khác nào muốn chọc thủng màng nhĩ em. “Con không được rửa tội mô nghe vợ, mạ với anh không có cho mô hấy. Còn nói mà không chịu nghe lời thì dẹp khỏi nhà thờ nhà thiếc chi hết”. Tâm hồn em bị Tân xô dụi để rồi như ngã từ đọt tre xuống đất. Những thứ Tân hứa trong nghi thức chuẩn hôn phối của hai người là gì? Tân không trơ trẽn sao khi cấm con của em rửa tội? Mà cũng đúng, danh dự với vợ đâu có thể đem so cho lại chữ hiếu với mẹ chứ. Hàng tá câu hỏi không một lời giải đáp cứ thế luẩn quẩn trong đầu em. Chẳng lẽ em hi sinh, em chịu đựng chừng đó mà vẫn còn chưa đủ sao? Em vẫn yêu thương Tân, chăm sóc mẹ chồng trong khi họ đã bạc đãi em. Điều ấy chưa đủ sao? Em chấp nhận nuốt cay ngậm đắng những lời trách móc chửi rủa đấng sinh thành dưỡng dục nên em và không đáp trả lại một lời. Chưa đủ sao? Họ còn muốn em phải chịu đựng thêm những gì nữa chớ? Em lại cười. Nụ cười này nghe cay đắng kinh khủng.
“Hối hận chưa em?”. Nếu một ai hỏi câu ấy, có lẽ em sẽ trả lời là em hối hận đôi chút. Em hối hận vì đã từ bỏ đời tu, cái đời sống mơ ước mà em vun trồng chăm bẵm khi còn loi choi. Em hối hận vì đã không lắng nghe lời má, lời ba khuyên can dạy dỗ. Em hối hận vì đã tự chọn cho mình con đường quá khó. Nhưng nếu có ai hỏi em rằng “em muốn buông xuôi không?”, chắc chắn em sẽ ngẩng nhìn họ bằng ánh mắt rực sáng của mình rồi đáp rằng chỉ khi nào em chân run gối mỏi, sức tàn lực kiệt, thì em sẽ tạm nghỉ ngơi để lại sức, chứ em không buông.
Em không nói lí do vì sao em không buông, nhưng có lẽ nhiều người thương và hiểu em, họ sẽ biết. Biết em là một phụ nữ Phú Yên chịu thương chịu khó. Biết em là một con người thủy chung đậm tình của vùng đất duyên hải. Biết em là một người Công giáo mẫu mực. Và biết em là hậu duệ của vị tử đạo tiên khởi trên đất nước hình chữ “S” này.
Em có lẽ sẽ không thể làm chứng như người anh Anrê Phú Yên, nhưng em sẽ không buông xuôi dù đầy dẫy thử thách khi theo Chúa và đem Chúa cho người khác. Em sẽ minh chứng cho niềm tin của em, và em tin rằng chỉ cần em cố gắng thêm chút, thêm chút và thêm chút, em sẽ gặt được nhiều hoa trái. Trước mắt là những vấn đề ở gia đình nhà chồng.
Em biết rằng em sẽ gặp nhiều thử thách, đau khổ hơn nữa. Tương lai em mù mờ biết mấy. Nhưng em sẽ mạnh mẽ hơn, vì em biết chắc rằng Chúa không bỏ em giữa “bầy sói”, người anh cả Anrê Phú Yên của em luôn cầu bàu cho em. Và má, có lẽ giờ đã ở trên trời, sẽ luôn là nguồn trợ lực hết mình cho đứa con gái bé bỏng của má.
“Má biết lòng dạ mầy rầu, mầy nói được là làm được. Má cứ cầu Chúa suốt, cho mầy làm gì cho bên chồng mầy theo đạo luôn nhan.”
***
Huế đêm nay vẫn hầm hập với cái nóng bức bối thường trực, nhưng em không còn cảm thấy nó nữa. Bởi em giờ đang nằm bất tỉnh trong căn phòng lạnh buốt của bệnh viện, sau cú xô ngã của mẹ chồng. Em đã động thai. Bên ô cửa kính phòng cấp cứu là cảnh những con người, với chiếc áo blouse xộc xệch vì khoác vội, đang làm mọi cách để cứu đứa bé sinh thiếu tháng giữa ranh giới mong manh còn mất, Tân và mạ anh ấy như muốn gục ngã. Tân trong cơn khủng hoảng đã vò đầu bứt tóc và đấm mạnh vào ngực mình như thể muốn đấm bật sự bất lực ra khỏi tim. Anh chắp tay vái lạy tứ phương, cầu xin cả ông Chúa mà mạ anh căm ghét. Còn mẹ Tân, bà còn hoảng hơn cả Tân. Không phải chỉ vì đứa cháu đích tôn đang nguy kịch, mà còn vì cơn phẫn nộ mù quáng của chính mình có thể bị khui ra bằng lời tố của đứa con dâu đang nằm kia, nếu nó tỉnh lại… và nếu nó còn đủ sức để nói.
Em tỉnh lại sau vài giờ ngắn ngủi mà ngỡ dài như một kiếp. Nhưng đứa bé thì không, nó vẫn đang mong chờ một phép màu. Em đưa đôi mắt mệt mỏi nhìn hai con người thảm sầu, rũ rượi. Em bật khóc trách bản thân thậm tệ vì không giữ được con, vì bất lực, vì yếu đuối, và chẳng mảy may nhắc đến kẻ đã gây ra chuyện này. Tân ôm ghì em vào lòng, vừa xin lỗi vừa không ngừng tự trách bản thân. Còn mẹ chồng em? Bà bỏ ra ngoài sau cái thở phào nhẹ nhõm.
Em lim dim thiếp đi. Nhưng một cái nắm tay khẽ run khiến em giật mình thức giấc. Là bà ta. Mắt bà hoe đỏ, có lẽ bà đã khóc nhiều, em đoán vậy, chắc bà khóc vì cơ hội ẵm bồng đứa cháu đích tôn không còn. Em muốn đuổi bà ta tránh xa khỏi em, xa bao nhiêu có thể, nhưng em không làm được. Bàn tay bà vuốt nhẹ đôi tay em. Bàn tay ấy, lần đầu tiên, không mang theo sự cay nghiệt. Nước mắt và bao tâm sự của bà cứ thế tuôn ra. Nếu như ông ngoại của Tân không chết vì đạn lạc trong “biến cố đài phát thanh Huế năm 1963”, nếu cuộc sống bà không vất vả lầm than khi nhà vắng bóng người cha thì có lẽ … bà đã không căm thù đạo Công Giáo đến vậy. Bà nói lời xin lỗi em với đầy sự hối hận, chứ không như lời xin lỗi khi bà đốt sách giáo lý vài tháng trước.
Em được an ủi. Em thấy lòng dịu lại. Chúa đã lặng lẽ giúp em tháo nút một nỗi oán. Nhưng… em nhìn lên trần nhà trắng nhòa ánh đèn mà tự hỏi.
Phải chăng, mọi thứ đã muộn màng?
***
“Xin mời thai phụ 014 và người nhà làm thủ tục để đưa thai nhi vào phòng chăm sóc đặc biệt.”
“Bác sĩ ơi, con em như răng rồi bác sĩ?”
“Anh vẫn chưa hiểu sao, con anh đã sống cách thần kỳ và giờ cần anh làm thủ tục để em bé được vào phòng hồi sức đặc biệt anh nạ.”
Tiếng la hét hạnh phúc của hai mẹ con Tân phá vỡ cái bầu không gian vốn cần sự im lặng. Còn em, cùng với dòng lệ hãy còn vương trên đôi gò má, em lại mỉm cười. Nhưng lần này em cười vì em vẫn chưa hiểu. Em chưa kịp hiểu rồi đây Chúa sẽ dẫn em đi trên nẻo đường nào …
* Matthêu Võ Minh Cường
Đại chủng viện Xuân Bích Huế
Giải Nhất cuộc thi ‘400 năm – Người chứng thứ Nhất’
