Lữ Y Đoan: nhà văn hóa lớn của Việt Nam bị lãng quên và tác phẩm Sấm truyền ca (1670)

15/10/2025 345 lượt xem

(Trích trong bài biết Linh mục Việt Nam tiên khởi: Những “hạt gạo trên sàng” của Lm. Trương Đình Hiền)

 

  1. Tiểu sử của linh mục Lữ Y Đoan (Theo Roland Jacques)

Trong bốn linh mục Đàng Trong được Đức cha Lambert lần lượt phong chức trong những tháng năm đầu tiên trong cương vị Giám mục Đại diện Tông tòa Đàng Trong, chỉ có linh mục Lữ Y Đoan là người được lãnh chức thánh ngay trên chính quê hương mình. Cha Lữ Y Đoan được Đức cha Lambert phong chức linh mục ngày 21.3.1676, trong cuộc kinh lý mục vụ Đàng Trong lần thứ hai (1675-1676). Về lý lịch đầy đủ của cha Lữ Y Đoan, xin được nhường lại cho linh mục tiến sĩ Roland Jacques, cử nhân và tiền tiến sĩ (DEA) về Việt học và Viễn Đông học tại Đại học Viện các ngôn ngữ và Văn minh Đông phương Quốc gia ở Paris, trình bày:

“Lữ Y Đoan là con đầu của một trong những người Kitô hữu thâm niên nhất ở Quảng Nam, nhưng chỉ biết dưới tên gọi là “cụ già Anrê”, người giáo dân hữu trách coi sóc cộng đồng kitô hữu Kẻ Chàm. Nhà ông được dùng làm nhà thờ của cộng đồng. Năm 1641, Lữ Y cùng với cha và em mình là những người trong nhóm kitô hữu đầu tiên được xem là đã chịu khốn khổ vì đức tin: họ bị bắt chỉ vì là người kitô hữu và bị phạt đánh đòn. Lữ Y Đoan cũng là một trong những thầy giảng đầu tiên, bạn đồng hành với Anrê Phú Yên và hay chữ như vị này. Ngày 25 tháng bảy năm 1644, cha của Lữ Y, cụ già Anrê, lại bị bắt cùng một lúc với Anrê Phú Yên. Hai người bị đưa vào nhà tù chung với nhau và cùng chịu án tử hình ngày 26 tháng bảy năm 1644. Nhưng người Bồ Đào Nha xin cho cụ già Anrê được ân xá “vì cụ đã bảy mươi ba tuổi, để cụ có thể sống vài năm nữa với con cái”.

Được phong linh mục năm 1676. Lữ Y Đoan dâng lễ mở tay ngày 8 tháng chín trước sự hiện diện của 500 kitô hữu đến từ khắp Quảng Nam. Thánh lễ cử hành tại Kẻ Chàm, ngay nơi trước đây Anrê Phú Yên đã làm chứng cho Chúa Kitô trong vinh quang, và đó cũng là căn nhà riêng của gia đình người em ruột mình tên là Emmanuel.

Lữ Y Đoan biết chữ Hán, chữ Nôm, chữ La tinh một cách thuần thục. Linh mục Vachet, MEP, nói rằng ngài là “linh mục thông thái nhất của chúng ta trong vùng, và có thể nói được cả toàn Đàng Trong”. Ngài đã lưu lại một tập Kinh Thánh bằng thơ, tập Sấm Truyền Ca. Bản văn có tầm quan trọng đặc biệt ấy là một trong những chứng từ ưu hạng của tiếng Việt viết bằng chữ Nôm trong thế kỷ XVII. Lữ Y Đoan chết vào tháng sáu năm 1678…” (x. ROLAND JACQUES).

  1. Linh mục Lữ Y Đoan: Trí thức lỗi lạc của Đàng Trong: Thông thạo Hán (Nôm), La tinh

Đức cha Lambert, trong ký sự của ngài, đã nhiều lần nhắc đến cha Lữ Y Đoan; trong đó ít nhất có hai lần ngài xác nhận “Lữ Y Đoan là một “người thông thái” và “thông thái nhất của cả Đàng Trong”:

– Nhật ký ghi ngày 31.12.1675: “Chúng tôi đã sai Thầy Louis Đoan, thầy giảng kỳ cựu và là một trong các người thông thái nhất của vương quốc (Đàng Trong) đến với cha De Courtaulin để cha này chỉ dạy chữ nghĩa của chúng tôi, với ông Đôminicô, thầy giảng xứ Bàu Nghệ, và chuẩn bị họ chịu chức thánh”.

– Nhật ký ghi ngày 22.11.1675: “Một thầy giảng thông thái mà chúng tôi dự định cho chịu chức linh mục, đã hoàn tất việc viết một thánh lễ De Beata sang chữ Hán, để học cách phát âm tốt hơn.”.

Đây là một lý chứng hùng hồn nhất xác nhận cha Lữ Y Đoan vừa là một người thông thái vừa rất giỏi tiếng La Tinh so với các linh mục đồng đạo lúc bấy giờ. Bởi vì phải thật giỏi tiếng La tinh mới có thể chuyển dịch một bộ lễ “De Beata” (bằng tiếng La tinh) sang chữ Hán (Nôm). Chắc chắn, đây là một công trình mang tính “hội nhập văn hóa” và tạo điều kiện cho anh em trong hàng linh mục dễ dàng cử hành Thánh lễ bằng tiếng Hán (Nôm), một thứ tiếng mà các thầy giảng và linh mục, những trí thức của xã hội thời ấy, ai cũng “đọc viết thành thạo” như quy định của MONITA.

Vì thế, dùng cái luận chứng: cha Lữ Y Đoan “đã hoàn tất việc viết một thánh lễ De Beata sang chữ Hán, để học cách phát âm tốt hơn” để khẳng định ngài “không biết tiếng La Tinh” là không hợp lý chút nào.

 

– Ghi nhận của thừa sai Courtaulin, một người có đầu óc xem thường linh mục bản xứ, về lễ mở tay của cha Lữ Y Đoan tại quê nhà sau 5 tháng chịu chức linh mục: “Ngày lễ Sinh Nhật Đức Mẹ, cha Louis dâng thánh lễ đầu tiên tại Ca Chàm trong nhà người em trai út của cha (son cadet), trang hoàng rực rỡ, với sự hiện diện của khoảng 500 giáo hữu là những người ưu tú tại toàn tỉnh này. Trước mặt những người đó, sau phần biếu quà cáp, chúng tôi mở lá thư Đức Giáo Hoàng Clêmentê X gửi tất cả các Kitô hữu vương quốc này và đọc thư bằng tiếng Đàng Trong”.

Chứng từ này có hai điều đáng ghi nhận: Lữ Y Đoan phải là một nhà trí thức, một nho sĩ lỗi lạc trong vùng, nên ngày “Lễ mở tay” (Tạ ơn) của ngài tại quê hương mới có sự tham dự của 500 giáo hữu ưu tú trong toàn tỉnh. Hơn nữa, chắc chắn ngoài ngài, không ai có đủ khả năng dịch thư Đức Giáo Hoàng Clêmentê (bằng tiếng La tinh) ra tiếng Đàng Trong để toàn thể giáo dân tham dự đều cùng lắng nghe trong bữa tiệc đặc biệt đó.

– Chứng từ của cha Vachet, thừa sai hoạt động tại Đàng Trong cùng thời với cha Lữ Y Đoan: Linh mục thừa sai này nhắc đến cha Lữ Y Đoan hai lần, và đều dành cho cha Lữ Y Đoan sự ngưỡng mộ đầy trân trọng:

* Lần 1 trong một lá thư gửi về Chủng viện Paris, đề ngày 20.10.1677: “Chuyến đi cuối cùng của Đức cha là trong tỉnh Quảng Nghĩa […]. Trở về từ sứ vụ đó, Đức cha Bêryte truyền chức linh mục cho thầy Louis Đoan, một trong các thầy giảng kỳ cựu nhất và là nho sĩ của vương quốc”.

* Lần 2: Dịp họp Công nghị Hội An II (26.10.1682): “Tôi đem theo tôi cha Louis, vị thông thái nhất trong các linh mục bản xứ của chúng tôi, và người ta có thể mạnh dạn thêm rằng là người thông thái nhất trong toàn xứ Đàng Trong, bởi vì ngài đã được xem như vậy trước khi chịu chức linh mục… Cha Louis và một trong những giáo lý viên đối lập đã dịch ra bằng tiếng Đàng Trong những gì tôi đã đọc bằng tiếng Latinh để gửi lại cho ông Norguette.”.

Cho dù chứng từ trên không hợp lý về thời điểm liên quan đến cha Lữ Y Đoan; vì năm họp Công nghị Hội An II (1682), cha Đoan đã qua đời được 4 năm (1678). Tuy nhiên, việc cha Vachet khẳng định cha Lữ Y Đoan là một người thông thái và thông thạo tiếng La tinh thì hoàn toàn phù hợp với các chứng từ khác đã nêu.

  1. Lữ Y Đoan và các linh mục Việt Nam đồng sự trong công tác “Quốc ngữ”:

Như chúng ta đã biết, khi Đức cha Lambert cập bến Đàng Ngoài (1669) và Đàng Trong (1671) lần đầu tiên thì chữ Quốc ngữ bằng mẫu từ La tinh đã được các cha Dòng Tên phổ biến được gần 20 năm (nếu tính từ ngày xuất bản cuốn tự điển “Việt Bồ La” và sách giáo lý “Phép Giảng Tám ngày” năm 1651 tại Giáo đô Rôma). Chắc chắn, để công trình văn hóa vĩ đại này được thành tựu đến thế, đã có rất nhiều cộng tác viên của người Việt chúng ta; mà chắc chắn thành phần chủ yếu đó là các thầy giảng, những người được chính các thừa sai Dòng Tên chọn gọi và đào tạo cách bài bản; trong đó không thể thiếu việc học hỏi ngôn ngữ mới: Quốc ngữ với mẫu tự La tinh. Đây là điều đã được nhiều học giả và tài liệu nghiên cứu xác nhận. Ở đây, xin được trích dẫn vài ghi nhận của linh mục tiến sĩ Antoine Bùi Kim Phong, trong Luận án tiến sĩ của ngài: “Còn về các thầy giảng ở Đàng Trong có lẽ họ cũng học chữ viết mới của tiếng Việt này từ cha De Rhodes và các đồng sự của ngài. Trong suốt 10 năm ở Ma Cao, cha De Rhodes đã viết những bản nháp đầu tiên của cuốn Dictionarium và cuốn Catechismus. Có lẽ, trong chuyến lưu lại lần thứ hai tại Đàng Trong từ giữa năm 1640 và 1645, ngài hoàn thành và thử nghiệm chữ viết mới này với các thầy giảng, như vậy, họ là những người đầu tiên ở Đàng Trong học và dạy chữ viết này. Không phải là phóng đại khi nói rằng những thầy giảng đầu tiên này ở Đàng Trong là những cộng tác viên có khả năng của cha De Rhodes trong việc chuyển tự tiếng Việt sang chữ viết La tinh hóa. Thật vậy, việc sử dụng nhiều và khéo léo các từ Hán Việt, những câu châm ngôn và tục ngữ trong các tác phẩm của cha De Rhodes khiến chúng ta nghĩ đến sự trợ giúp và cộng tác mật thiết của các thầy giảng uyên bác”.

Ngoài công tác về “ngôn ngữ” đó, thế hệ thầy giảng được Dòng Tên đào tạo cũng là thế hệ của những nhà trí thức và văn hóa Công Giáo đã tận dụng khả năng và vị trí thuận lợi trong cộng đoàn cũng như với xã hội để cọng tác với các thừa sai phục vụ công cuộc loan báo Tin mừng nhất là việc “Hội nhập văn hóa”. Chắc chắn, các ngài là những “thông ngôn”, “thông dịch” cho những thừa sai chưa thông thạo ngôn ngữ địa phương; là những dịch giả, chuyển ngữ các văn kiện của Huấn Quyền, các tư liệu phụng vụ, các sách kinh nguyện đạo đức từ La tinh sang ngôn ngữ Việt Nam. Vì thế, không là gì, trong số các thầy giảng mà một số sau đó trở thành linh mục, đã là những nhà văn, nhà thơ với các tác phẩm đạo đức, phụng vụ, giáo lý… hoặc bằng Hán Nôm, hoặc bằng Quốc ngữ-Latinh hóa. Trong số đó phải kể đến thầy giảng Gioan Thanh Minh với các tác phẩm thi ca kinh vãn nổi tiếng; hay linh mục Lữ Y Đoan với tác phẩm Kinh thánh bằng thơ lục bát “Sấm Truyền Ca” mà chúng ta sẽ bàn sau đây.

  1. Linh mục Lữ Y Đoan và tác phẩm “Sấm truyền ca”

Vì có tác giả đưa ra những luận cứ “tồn nghi” về tác giả thật sự của tác phẩm “Sấm Truyền Ca”, một tác phẩm Hán-Nôm đã được dịch sang Quốc ngữ mà hầu hết các nhà nghiên cứu văn học cũng như lịch sử đều dành cho linh mục Lữ Y Đoan, nên chúng ta cũng cần bàn luận thêm chuyên đề này để có một kết luận khả dĩ thuyết phục.

 

Lữ Y Đoan, tác giả của “Sấm Truyền Ca”: Sự công nhận liên tục của lịch sử:

– Nếu nói tới thời điểm “dấu vết xuất hiện” xưa cũ nhất của tác phẩm mang tên “Sấm Truyền” thì phải ghi nhận thời của Đức cha Alexandris, Giám mục Tông tòa Đàng Trong từ năm 1728-1738. Chính ngài đã nêu tên tác phẩm Kinh Thánh tiếng Việt là “Sấm Truyền”, cho dù được nhắc tới nhưng không nhắc tên tác giả, và với mục đích tiêu hủy, trong lá thư ngài gởi cho thừa sai Gouge ngày 22.8.1731: “Tôi biết cha và các giáo dân đang có tại nhà mình quyển sách Thánh Kinh được dịch sang tiếng Việt, tục gọi là Sấm Truyền, và nhiều tập sách cũng như các kinh cầu do Đức cha Carôlô Labbé soạn ra. Do vậy cha hãy liệu, sớm nhất có thể, thu lại tất cả các sách đó, sách Thánh Kinh và các kinh, và hãy gửi đến cho tôi, hay dể tại nhà cha Valêriô Rist là quyền đại diện của tôi, tại vì tôi cấm những thứ đó vào những ngày sắp tới. Sẽ không được phép đọc các sách đó nữa và cha sẽ thông báo khắp nơi rằng chỉ được các kinh cũ mà thôi”.

– Cũng cần biết lý do của quyết định trên: Theo nhiều nhà nghiên cứu, là Giám mục xuất thân từ Dòng tu (Barnabê), Đức cha Alexandris rất ác cảm với các Thừa sai Hải ngoại Paris hay linh mục triều; nhất là không ưa gì các linh mục triều được Giám mục Thừa sai phong chức, cho nên, như câu ca dao “ghét người ghét cả tông chi họ hàng”…, những gì dính dáng đến Hội này, cho dù là Kinh Thánh, phải bị dẹp bỏ. Đó là chưa kể đến hai lý do sau: một đàng mang óc đố kỵ, xem thường văn hóa bản địa, người bản xứ; một đàng dốt nát về phong tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ và những cách diễn đạt của người Á đông, Việt Nam về niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo, thần học và Kinh thánh….

– Nếu nói đến “sự công nhận có tính liên tục” về tác giả Lữ Y Đoan của tác phẩm “Sấm Truyền Ca”, có lẽ chúng ta cần phân thành ba nhóm sau:

* Nhóm thứ nhất: Liên quan đến lịch sử tiếp cận tác giả và tác phẩm: Tìm gặp, biên dịch: Các nhân vật này xuất hiện trong hai Bản Sấm Truyền Ca hiện còn: Bản của “PAULUS TẠO” và bản của “NGUYẾN VĂN NHẠN”.

*1. Bản của “PAULUS TẠO” (từ Tuần báo “NAM KỲ ĐỊA PHẬN”) với hai lời “Tựa” của hai nhân vật đầu tiên tiếp cận, dịch và lời “ghi chú” của chinh Paulus Tạo:

– Simon Phan Văn Cận (người phát hiện đầu tiên bản chữ Nôm) năm 1810 và dịch sang Quốc ngữ (1820) xác nhận thầy cả Lữ Y Đoan là tác giả (Có nhầm lẫn về năm chịu chức của ngài).

– Vêrô Trần Hớn Xuyên: Tìm gặp bản chữ Quốc ngữ năm 1910 tại Cái Bắc và chép lại để làm tài liệu lưu truyền cho con cháu: Linh mục Lữ Y Đoan là tác giả.

– Paulus Tạo (ký giả Công giáo): nhận xét và đính chính: về năm chịu chức (1676), chính bản bằng chữ Nôm được cha Lữ Y Đoan soạn năm 1670… Có nhắc tới bản của linh mục “PHAOLO QUY”.

*2. Bản của “NGUYỄN VĂN NHẠN” (từ Báo “TÔNG ĐỒ SÀI GÒN”): Với “Lời nói đầu” của ký giả Công giáo Thaddeous Nguyễn Văn Nhạn: trình bày quá trình hình thành, trôi dạt và hiện tồn của tác phẩm “Sấm Truyền Ca” mà Lữ Y Đoan chính là tác giả.

** Nhóm thứ hai: Các tác giả, nhà nghiên cứu đồng thuận Lữ Y Đoan là tác giả của Sấm Truyền ca: Có thể nói được, kể từ người phát hiện đầu tiên là PHAN VĂN CẬN (1820) cho tới trước ngày 24.11.2023; nghĩa là suốt hơn 200 năm không có một “phản biện” nào gọi là để “đặt lại vấn đề” về “tác giả” và “tác phẩm” “Sấm Truyền Ca”. Nghĩa là suốt hơn hai thế kỷ, toàn bộ các nhà nghiên cứu uy tín, các sử gia ưu hạng… đều ghi nhận linh mục LỮ Y ĐOAN (LOUIS ĐOAN) chính tà tác giả của tác phẩm chữ Nôm “SẤM TRUYỀN CA”, xuất hiện vào khoảng năm 1670 (thế kỷ 17). Sau đây xin đan cử một số các nhân vật liên quan:

**1. Các tác giả Công giáo:

– Học giả Phạm Đình Khiêm

– Học giả Võ Long Tê

– Giáo sư sử học Dòng Tên Việt Nam Đỗ Quang Chính

– Giáo sư Nguyễn Văn Trung

– Giáo sư linh mục Trần Thái Đỉnh

– Giáo sư linh mục Thanh Lãng

– Giáo sư tiến sĩ luật học, sử học và ngôn ngữ học: linh mục Roland Jacques

– Nhà nghiên cứu, nhà thơ Nguyễn Đình Bảng.

– Nghà nghiên cứu phê bình văn học: Bùi Công Thấn.

– Giáo sư sử học Trương Bá Cần

– Giáo sư nghiên cứu sử học: linh mục Nguyễn Đức Thông.

– Nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh

– Nhà nghiên cứu, thi sĩ: linh mục Trăng Thập Tự (Võ Tá Khánh)

– Nhiều tác giả khác chưa có điều kiện tiếp cận…

 

**2. Các tác giả ngoài Công giáo:

– Giáo sư Hoàng Xuân hãn.

– Phó Giáo sư tiến sĩ Trần Thanh Đạm.

– Phó Giáo sư tiến sĩ Nguyễn Hữu Sơn

– Tiến sĩ Hán nguyên Nguyễn Nhã

– Giảng viên Đại học Lê Phụng

– Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Cung…

– Nhiều tác giả khác chưa có điều kiện tiếp cận…

 

*** Nhóm thứ ba: các tư liệu, văn phẩm, tác phẩm quan trọng về lịch sử: xác nhận Lữ Y Đoan là tác giả Sấm Truyền Ca:

  1. Về báo chí: 

– Nam Kỳ Địa phận,

– Tông Đồ Sài Gòn…

 

  1. Về tác phẩm nghiên cứu lịch sử (lịch sử văn học Công Giáo hay lịch sử tổng quát): 

– Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam, quyển 1 (Võ Long Tê)

– Biểu nhất lãm văn học cận đại (Thanh Lãng).

– Văn học Công giáo Việt Nam – Những chặng đường (Lê Đình Bảng)

– Hướng đến 400 năm Văn học Công giáo Việt Nam 3 Quyển I, II, III (LM. Trăng Thập Tự).

– Việt Nam Công giáo sử tân biên 2 quyển (I, II) (Cao Thế Dung)

– Văn học Công giáo Việt Nam đương đại (Bùi Công Thuấn).

– Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian (ban biên soạn lịch sử giáo phận).

– Nhiều tác phẩm khác…

Với những “chứng nhân”, “chứng từ” và “chứng tích” hùng hồn, dài lâu đầy uy tín và thuyết phục trên, chúng ta có thể yên tâm để xác tín rằng: linh mục Lữ Y Đoan chính là tác giả của tác phẩm thi ca diễn Nôm Kinh thánh đầu tiên của Giáo Hội Việt Nam – Sấm Truyền Ca. Dĩ nhiên, khẳng định này không có ý phủ nhận những gợi ý, phản biện hay đề nghị những chứng cứ thuyết phục hơn, chuẩn xác hơn liên quan đến tác giả Lữ Y Đoan và tác phẩm Sấm Truyền Ca. Vì thế, trong vấn đề này, chúng ta áp dụng “nguyên tác của thánh Giáo phụ Augustinô” là thích hợp nhất: In necessariis unitas, in dubiis libertas, in omnibus caritas (unity in necessaries, liberty in doubts, charity in all = Hiệp nhất trong những điều cần thiết, tự do trong những điều còn nghi ngờ, bác ái trong mọi sự).

* Lm. Trương Đình Hiền
Tài liệu tọa đàm Sấm truyền ca (1670) của linh mục Lữ Y Đoan (1608-1678)