Em…

19/11/2025 253 lượt xem

Em được sinh ra và lớn lên ở vùng quê nghèo làm nghề đánh cá mà mùi hơi của sóng biển đã ngấm vào da thịt của con người nơi đây. Từ bao thế hệ, biển cả là một phần của cuộc sống. Ở đây giản dị lắm! Là nơi có những cơn gió muối thổi quanh năm và mặt trời ửng đỏ nắng chát luôn rực rỡ trên mái ngói cũ sờn. Em thương mẹ. Mẹ em học giỏi lắm, nhưng là người con gái duy nhất trong nhà gồm có 7 người con, nên cùng với bà ngoại, mẹ dường như gánh gồng mọi thứ bếp núc hay đồng áng tưởng chừng như vặt vãnh song lại là một nỗi “chất nặng” trên đôi vai của cô bé lớp 4 phải nghỉ học giữa chừng. Mối lương duyên của mẹ với bố chẳng có gì thú vị cả. Bố và mẹ đến với nhau chỉ sau vài lần gặp gỡ và nói chuyện giữa hai bên, và dường như cái suy nghĩ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” vẫn còn thi thoảng chen vào trong những câu mẹ nói.

Còn bố, bố vẫn kể cho em nghe những câu chuyện thuở xưa. Bố chẳng biết tại sao lại ưng ý đến thế. Mẹ yêu quý những thứ nhẹ nhàng như âm nhạc, ca hát và kể chuyện. Còn bố chỉ thích những chiếc tua vít, chiếc khoan máy hay cái đinh sắt nhọn nhọn. Các cô gì chú bác thường hay ví bố và mẹ như ban đêm và ban ngày. Dĩ nhiên, mỗi lần nghe điều đó, bố thừa hiểu mình là ban đêm. Vì bố chẳng khi nào cười.  Khuôn mặt lúc nào cũng hằm hằm. Tay lúc nào cũng đút vào túi quần và bước đi những bước chân lững thững.

Dù khác biệt là thế, nhưng cả hai đều có một điểm chung: Giáo Lý Viên. Kể từ khi em còn nhỏ xíu, bố và mẹ đã lẽo đẽo đưa nhau trên chiếc xe đạp cũ kĩ để đến trường giáo lý.  Tất nhiên, bố luôn dạy lớp “đàn anh đàn chị”’. Còn mẹ luôn nhẹ nhàng trong những tiếng kinh và lời hỏi đáp với các em “đồng cỏ non”.

Em lớn lên trong tiếng kinh sớm tối, trong những lần theo mẹ đi lễ, được ngồi nép vào lòng mẹ nghe cha giảng. Từ lúc còn bé xíu, em đã thích cái không khí trầm lắng của nhà thờ, thích tiếng chuông leng keng mỗi chiều và thích cách cha xứ mặc áo lễ, bước lên cung thánh như thể đang bước vào một thế giới hoàn toàn khác – yên tĩnh, thánh thiện và đầy ánh sáng.

Em cảm ơn mẹ, vì mẹ đã không chỉ dạy cho em biết rằng có Chúa, mà còn mở ra trong tâm trí em chân lí diệu kì, rằng chính Chúa là người bạn tốt nhất của em. Mẹ là người đã làm phát sinh trong em một niềm khắc khoải và mến yêu Chúa, và tất cả những gì là tốt đẹp. Chính mẹ cũng là người đã họa vào trong tâm trí lòng khao khát hiến dâng và một tinh thần phục vụ. Em cũng cảm ơn bố, tuy rằng bố hay càm ràm, bỉ bai và hay than vãn với hàng xóm, nhưng nói câu nào là chuẩn câu ấy. Khi em lớn thêm và đủ lông đủ cánh, bố thường lén xem facebook của em nhưng lại sợ em không thích. Bố mẹ chính là người như vậy, ghi nhớ hết thảy những điều em nói, các món ăn em thích và luôn ủng hộ hết mọi lựa chọn của em.

Em thường nói với mẹ:

– Mai mốt con muốn làm cha xứ.

Mẹ cười, vuốt tóc em:

– Làm cha thì phải thánh thiện và vững vàng lắm con à. Nếu Chúa gọi con, mẹ sẽ vui lắm.

Nhưng…

…Chúa… lại gọi mẹ trước…

Mẹ mất vào một ngày trời mưa rả rích, khi em vừa lên lớp 10. Căn bệnh ung thư quái ác mà mẹ giấu bấy lâu đã thắng cái sức mạnh kiện cường của người phụ nữ gồng gánh trên vai cả một trời tuổi thơ và hy vọng của em. Cả nhà bây giờ chỉ còn ba người – bố, chị gái và em. Bữa cơm không còn tiếng cười, căn nhà thiếu vắng tiếng hát ru, và nhà thờ bỗng dưng trở nên lạnh lẽo vì không còn bóng dáng mẹ.

Người ta thường bảo, con người lạ lắm. Họ hay nhớ những thứ lạ lùng khi mất đi một người thân nào đó. Những thứ nhỏ xíu. Những nụ cười. Những tiếng càm ràm. Những cái nhíu mày khó chịu. Nhớ cách mà người thân yêu trở mình lúc ngủ. Còn em, em nhớ mẹ. Nhớ cả mỗi lần bước chân vào gian bảy của ngôi nhà vốn đầy ắp tiếng nói cười, nay thoạt im hơi lặng tiếng. Nhớ cả khi làn hương nghi ngút khói bay lên mỗi lần em bước qua di ảnh mẹ. Nhớ cả tiếng chua chát mỗi lần em làm việc gì sai nhưng lại chất chứa bao lo lắng. Và, em nhớ đến ngày lễ tang hôm ấy…

Đó là ngày buồn nhất trong cuộc đời của em. Những giọt nước mắt không thể xoa dịu. Những tiếng khóc ai oán nguyên sơ ngắt quãng bởi những tiếng thở dài mệt nhọc. Tất cả như giằng xé đến tận tâm khảm. Thời gian, nỗi buồn và tiếng day dứt xé lòng hòa quyện vào nhau trong làn mưa hối hả. Hôm ấy, lần đầu tiên em thấy bố khóc. Đúng thôi, chẳng lẽ người ta lại không quặn lòng khi mất đi “một xương một thịt”. Em đi trước, tay cầm di ảnh mẹ, chị gái đi bên quan tài mẹ, chân trĩu nặng trong lớp bùn đất đặc quánh.

Cuộc sống cứ thế trôi. Bố vẫn kiện cường trong cái khắc nghiệt của gió lào mùa hạ và cái rét lạnh thấu xương của mùa đông. Bố nuôi lớn em và chị. Bên cạnh đó, bố còn dạy giáo lý, cũng tham gia các hội đoàn. Song, với những ai biết bố từ trước, trong những năm tháng không còn mẹ, dường như mỗi ngày bố càng thấp đi vài centimet, như thể bố đã chùng xuống trong những tiếng thở dài và không còn hít thật sâu như trước nữa. Bố cũng dần trở nên lặng lẽ. Ngoài việc thúc chị em nó dậy đi lễ sáng, hối hai đứa soạn sửa đi học, ăn cơm hay đi ngủ vì trời tối, dường như bố chẳng bao giờ nói, dù chỉ là nửa lời về chuyện đó – chuyện của mẹ. Bố luôn là người ít nói, nhưng chuyện này hơi khác. Có lẽ bố bắt đầu nói trong đầu nhiều hơn. Như thể bố không muốn người khác bắt chuyện với mình, sợ rằng những giọng nói lải nhải đó sẽ xóa mất đi kí ức vẫn còn chễm chệ trong tâm trí về mẹ.

Tối đó, ngồi với bố trên chiếc ghế gỗ cũ kỹ ngoài hiên, em quay sang:

– Con vẫn muốn đi tu, bố à.

Bố lặng thinh, thoáng chút đượm buồn, rồi gật đầu rất khẽ.

– Mẹ con chắc cũng mong điều đó.

Em bắt đầu xin vào lớp dự tu, học hỏi, tham gia nhiều hoạt động hơn. Mỗi buổi tối, em ngồi lần chuỗi nơi bàn thờ nhỏ, bên di ảnh mẹ. Em học cách từ bỏ những điều phù phiếm, sống giản dị và kỷ luật hơn. Bố nhìn em mỗi ngày, không nói gì nhiều, chỉ thỉnh thoảng đưa em cuốn Kinh Thánh mới, hoặc gấp lại chiếc áo sơ mi em thường mặc đi lễ.

– Cố gắng lên con nhé! Bố và mẹ tin con.

Hôm đó, trời đổ cơn mưa bất chợt vào giữa hè. Những cơn mưa nặng trĩu, rơi thánh thót trên nền đất đồng làng, phủi đám rêu xanh hãy còn ngổn ngang trên những khe hở. Một mùi thơm nhẹ nhàng của hồn quê tỏa lên. Nhưng sao lòng em nặng nề. Bỗng một cuộc gọi đâu đó đến:

– Em trượt kì thi vào Đại Chủng Viện.

Lý do là sức khỏe. Căn bệnh di truyền từ mẹ khiến em không đủ tiêu chuẩn. Em lặng người. Đêm ấy, em về nhà, chui vào phòng, ôm lấy di ảnh mẹ mà khóc như chưa từng khóc. Em chẳng biết là em đang khóc hay đang trách mẹ nữa. Sao thế nhỉ? Căn bệnh quái ác ấy, dù không cướp đi sinh mạng em như nó đã chẳng nương tay đối với mẹ, nhưng nó để giết chết đi những ước mơ, hoài bão và cả những khao khát em đã cựa mình vươn lên trong niềm hy vọng. Em buồn. Bố cũng buồn theo. Em thấy ánh mắt ấy, lại một lần nữa hiện lên. Ánh mắt sâu thẳm của nỗi buồn miên man như ngày mẹ mất. Ánh mắt bất lực và tuyệt vọng như chẳng có điều gì có thể diễn tả được. Bố buồn. Nhưng không phải vì em không thể đi tu, nhưng vì biết bao hoài bão của đứa trẻ tuổi mười tám đôi mươi hãy còn hăm hở với thời gian, giờ đây lại bị quỵ ngã trước bức tường thành vững chãi của cuộc sống.

Bố đứng đó, bên ô cửa sổ nhỏ, tiếng động viên xen lẫn chút chất giọng khác lạ, như có một cái gì đến nghẹn lại ở cổ họng:

– Không được làm cha, thì con vẫn có thể sống như một người thánh thiện.

– Không phải cứ mặc áo dòng mới là người của Chúa. Con sống tốt, sống thật lòng, sống với đức tin – với bố, như vậy là đủ.

Em nhìn ông, mái tóc pha sương, dáng gầy đi nhiều. Người đàn ông đã mất vợ, mất người bạn đời, vẫn cố gắng sống vững vàng, để làm chỗ dựa cho em.

– Con sẽ như bố mẹ, sẽ là Giáo lý viên. Con cũng sẽ là một người thợ gặt nhiệt thành trong cánh đồng của Chúa.

Cuối năm đó, em ra mộ mẹ. Gió. Mưa. Trời se lạnh. Tiết trời chuyển mình sang thu. Đâu đó thoang thoảng mùi hoa sữa hòa vào từng nhịp gió. Nồng nàn. Đằm thắm. Dễ chịu. Mùa thu thật tình và nên thơ hòa quyện với chút hương thơm đặc trưng của hoa sữa. Em nhớ về Tháng Mẹ. Chẳng phải hoa sữa nở đúng vào Tháng Mẹ – Tháng Mân Côi hay sao? Không biết tình cờ hay do sự sắp đặt mà cây hoa sữa tỏa ra mùi hương quyến rũ đúng vào dịp tiết trời cựa mình chuyển mùa như một mùi hương từ xa dâng lên Mẹ. Hoa sữa vẫn thơm như thế, từng đêm thu, tha thiết, nồng nàn. Hình như ngay cả ánh mặt trời ửng đỏ chiều hồng cũng được dệt bằng hương hoa:

– Mẹ ơi, con không trở thành linh mục. Nhưng con vẫn sống cho Chúa. Con vẫn sống đúng điều mẹ dạy. Và con biết mẹ sẽ không buồn đâu.

Xa xa, chuông nhà thờ ngân vang.

Trong lòng em, một thứ ánh sáng rất ấm, rất thật – như lời mẹ ngày nào còn văng vẳng:

“Không ai yêu Chúa mà Chúa để lạc lối bao giờ.”

Tháng Sáu năm ấy, giáo xứ tổ chức trại hè. Em cùng các bạn giáo lý viên lên kế hoạch cả tháng trời. Mấy trăm em thiếu nhi ùa về, tay xách nách mang, tiếng cười rộn vang cả một góc giáo xứ tưởng chừng đã im ắng quá lâu. Em đứng nhìn các em chơi trò bịt mắt bắt dê, lòng vui như trẻ nhỏ. Bố em hôm ấy cũng ghé qua, ngồi trên bậc thềm nhà xứ nhìn em từ xa. Ông chẳng nói gì, chỉ nhìn, rồi lặng lẽ quay xe ra về. Em biết, ông vui lắm.

Chiều hôm ấy, em ngồi viết bài chia sẻ để đọc trong giờ kết trại. Khi viết đến dòng “Ơn gọi không phải là đích đến, mà là cách ta sống mỗi ngày”, tay em bỗng khựng lại. Em ngẩng đầu lên, nhìn qua cửa sổ – nắng chiều đang đổ xuống sân nhà thờ, xuyên qua những hàng cây già, ánh sáng chạm nhẹ vào chiếc thánh giá trên nóc cao vút, như một lời thì thầm của Thiên Chúa.

Em biết, con đường mình đang đi – tuy không phải con đường mà ngày xưa em vẽ ra trong giấc mơ bé nhỏ – nhưng lại là con đường mà Chúa đã âm thầm chuẩn bị, từng bước, từng người, từng nỗi đau và niềm vui.

Em vẫn là người của Chúa, dù không khoác áo dòng. Em vẫn là một “người gieo hạt” – bằng chính đôi tay trần, bằng những bài giáo lý, bằng những yêu thương rất thật.

Tối đó, sau trại, em về nhà trễ. Bố đã ngủ. Trên bàn, ông để sẵn cho tôi một ly sữa nóng và một tờ giấy nhỏ. Nét chữ quen thuộc, hơi nguệch ngoạc:

“Con à, mẹ con chắc mừng lắm. Mẹ đã chọn cho con một con đường không giống ai, nhưng là con đường đúng với trái tim con.”

Em gấp tờ giấy lại, cất vào ngăn sổ tay – cùng với cuốn sách giáo lý em vẫn mang theo mỗi ngày.

Em biết, hành trình của mình vẫn còn dài. Một ngày nào đó, có thể em sẽ viết sách. Có thể em sẽ tổ chức các khóa huấn luyện cho người trẻ. Có thể em sẽ thành một người cha – không phải cha xứ, nhưng là cha tinh thần của nhiều đứa trẻ đang tìm đường giữa đời.

Và dù em đi đâu, làm gì, em vẫn là đứa con bé nhỏ của Chúa, của mẹ – và là niềm hy vọng yên lặng trong mắt bố.

Trên con đường em bước, sẽ chẳng trải đầy nhung lụa. Nhưng chắc chắn… sẽ luôn có những đóa hoa nhỏ mọc lên – âm thầm mà bền bỉ.

Như đời sống của một người giáo lý viên……lặng lẽ mà không bao giờ vô nghĩa.

“Em không mang áo dòng, không có bài sai nào chính thức.

Nhưng em vẫn mang trong tim một sứ mạng.

Như Thánh Anrê Phú Yên – em xin làm giáo lý viên của Chúa Kitô,

… trong từng buổi dạy, từng lời cầu nguyện, từng ánh mắt trẻ thơ.

Và em tin… một ngày kia, khi gặp lại mẹ nơi Thiên Đàng,

em sẽ mỉm cười, vì em đã sống đúng với điều mẹ luôn mong:

Sống thánh thiện – và không ngừng yêu mến Chúa.”

 

* Phanxicô Xaviê Nguyễn Thanh Bắc
Tiền chủng viện Xã Đoài, Giáo phận Vinh
Giải Triển vọng cuộc thi ‘400 năm – Người chứng thứ Nhất’