Đôi nét về linh mục Lữ Y Đoan (1608-1678)

15/10/2025 292 lượt xem

Linh mục Lữ Y Đoan là tác giả của tuyệt tác văn chương chữ Nôm Sấm truyền ca. Sấm truyền ca nổi tiếng bao nhiêu thì tên tuổi của Lữ Y Đoan cũng được nhiều người nhắc đến bấy nhiêu. Tuy nhiên, cha Đoan không chỉ nổi tiếng nhờ tác phẩm này nhưng chính cha được nhiều người biết đến vì cha là một trong những linh mục người Việt đầu tiên và cũng là người đầu tiên được truyền chức linh mục tại Đàng Trong. Bài viết này sẽ trình bày đôi nét về linh mục Lữ Y Đoan, dựa theo những tài liệu mà chúng tôi hiện có.

  1. Năm sinh – năm mất

Theo thông tin trên tuần báo Nam kỳ địa phận các năm 1929 và 1930, Lữ Y Đoan sinh năm 1613 tại Kẻ Chàm. Nhiều tài liệu về sau đã theo đó và ghi Lữ Y Đoan sinh năm 1613.

Tuy nhiên, một phát hiện mới đây của linh mục Đào Quang Toản cho rằng Lữ Y Đoan sinh vào năm 1608. Để khẳng định điều này, cha Toản đã dựa vào nguồn tài liệu AMEP (Archives des Missions Étrangères de Paris) là những tường trình của các Thừa sai Paris. Tài liệu này đã tường thuật lại chuyến kinh lý của Đức cha Lambert de la Motte lần thứ 2 tại Đàng Trong (1675-1676). Nhật ký của vị giám mục lưu lại rằng:

“Ngày 23/02/1676: chúng tôi tiếp tục chỉ dẫn cho ông Lu-y Đoan, là một nhà nho lỗi lạc và là thầy giảng, 68 tuổi, để có thể truyền chức thánh cho ông, nếu có thể thì vào trước ngày Đức Giám mục lên đường”[1].

Như vậy, căn cứ vào lời tường thuật của Đức cha Lambert thì Lữ Y Đoan sinh vào năm 1608, trước đó 5 năm so với tài liệu của tờ Nam kỳ địa phận.

Trong khi năm sinh của Lữ Y Đoan có nhiều ý kiến khác nhau, thì phần đa đều nhất trí năm mất của ngài vào năm 1678, nghĩa là sau 2 năm chịu chức linh mục, hưởng thọ 70 tuổi.

Cha Courtaulin phúc trình ngắn gọn rằng: “Vào tháng 6, cha Louis người Đàng Trong đã từ trần vì một cơn đau bụng”[2], vì là nạn nhân của nước độc.[3]

  1. Quê quán

Bản Sấm truyền ca mà chúng ta có hiện nay đến từ bản chép tay của Paulus Tạo và Nguyễn Văn Nhạn. Trong lời mở đầu của hai bản chép tay này, cả hai vị đều nhắc đến sự kiện Lữ Y Đoan được Đức cha Lambert phong chức linh mục tại Cacham thuộc Quảng Nam.

Trong nhật ký của Đức cha Lambert có ghi lại:

“Ngày lễ Sinh nhật Đức Mẹ, cha Louis dâng thánh lễ đầu tiên tại Ca Chàm trong nhà người em trai út của cha (cadet). Trang hoàng rực rỡ, với sự hiện diện của khoảng 500 giáo hữu là những người ưu tú tại toàn tỉnh này.”[4]

Tuần báo Nam kỳ Địa phận nói rõ điều này hơn trong bài “Đức giám mục tiên khởi ở miền Nam” khởi đăng từ số 19/12/1929 đến số 11/9/1930, trang 511 thấy ghi: “Nơi Đức cha (De la Motte) đi thăm sau hết là tỉnh Quảng Ngãi, ở đó Ngài truyền chức cho thầy Louis Đoan là kẻ giảng thông minh đức hạnh. Cha mới này về vinh quy tại Kẻ Chàm bổn quán mình trong nhà người em, có đủ mặt giáo nhơn năm bảy người trực hội hi hả linh đình”.

Như vậy, bổn quán của Lữ Y Đoan chính là Kẻ Chàm thuộc Quảng Nam, nơi mà Chân phước Anrê Phú Yên đã chịu tử đạo, ngày nay thuộc giáo xứ Phước Kiều, giáo phận Đà Nẵng.

Trong tờ biểu tâu Đức Thánh Phapha năm 1667 của các thầy và giáo dân Đàng Trong, chính Lữ Y Đoan cũng cho biết về quê quán của ngài: “In Toparchia Tháng Hòa phủ in Vico Tlang an phường cum essem Ego Ludovicus Dưen…”, dịch là “Tôi Ludovicô Dưen sinh sống trong làng Tràng An phường, địa trấn Thăng Hoa phủ …”

Thăng Hoa là một trong ba phủ của xứ Quảng Nam hồi ấy, ở phía Bắc xứ (nay là Quảng Nam Đà Nẵng, hai phủ kia là Hoài Nhân – nay là Bình Định và Tư Nghĩa – nay là Quảng Ngãi).[5] Phủ Thăng Hoa[6] gồm ba huyện: Lê Giang, Hà Đông, Hy Giang; năm 1906 đổi thành Phủ Thăng Bình, sau năm 1975 đổi thành Huyện Thăng Bình. Làng Trường An nay

thuộc xã Bình Tú, huyện Thăng Bình,[7] cách nhà thờ Giáo xứ Hà Lam khoảng 1 km.

  1. Thân phụ

Cha của Lữ Y Đoan là một trong những người Kitô hữu thâm niên nhất ở Quảng Nam, với tên gọi là “cụ già Anrê”. Ông là một người giáo dân hữu trách coi sóc cộng đồng kitô hữu Kẻ Chàm. Nhà ông được dùng làm nhà thờ của cộng đồng. Năm 1641, ông là một người trong nhóm Kitô hữu đầu tiên được xem là đã chịu khốn khổ vì đức tin: họ bị bắt chỉ vì là người kitô hữu và bị phạt đánh đòn.

Theo linh mục Alexandre de Rhodes “Ông có vợ tên là Inhaxiô (Ignace) và hai con trai là Emmanuel và Louis (Lữ Y). Giống cụ y hệt về các nhân đức của cụ: nhà cụ là nơi ẩn náu tuyệt vời cho mọi Kitô hữu trong thời bình cũng như trong thời bão tố…”[8]

Ngày 25/7/1644, cụ già Anrê lúc này 73 tuổi đã bị bắt cùng thời điểm với Anrê Phú Yên. Hai người bị đưa vào nhà tù chung với nhau và cùng chịu án tử hình ngày 26/7/1644. Nhưng người Bồ Đào Nha và cha Alexandre de Rhodes đã xin cho cụ già Anrê được ân xá “vì cụ đã bảy mươi ba tuổi, để cụ có thể sống vài năm nữa với con cái”.

Ông chết chỉ vài năm sau cuộc tử đạo của thầy giảng Anrê Phú Yên (Xem Tường trình của Metello Saccano năm 1647). Mặc dầu gia đình bị điêu đứng vì đạo Đức Chúa trời đất, ông vẫn hiên ngang tuyên tín và giáo dục đức tin cho con cái, được sự nể trọng của mọi người. Nho sĩ Anrê già quả là một người cha gương mẫu, một tông đồ nhiệt thành, một chứng nhân bất khuất.

  1. Tên gọi

Cả hai bản chép tay của Paulus Tạo và Nguyễn Văn Nhạn đều dùng tên gọi Lữ Y Đoan. Lữ Y là phiên âm tiếng Việt từ tên thánh của cha Đoan là Luis trong tiếng Bồ Đào Nha.

Trong khi tên thường gọi bằng tiếng Việt của Chân phước Anrê Phú Yên đã bị thất lạc thì thật may mắn, tác giả Sấm truyền ca vẫn còn được biết đến với tên thường gọi của ngài, qua những chứng liệu chính xác.

Trong nhật ký chuyến thăm Đàng Trong lần thứ hai của Đức cha Lambert, cha Vachet là thừa sai đồng hành với Đức cha có nhắc đến tên của thầy Đoan trong một lá thư:

“Chúng tôi đã sai Thầy Louis Đoan, thầy giảng kỳ cựu và là một trong các người thông thái nhất của vương quốc [Đàng Trong]”.

“On a envoyé Mr Louis Doüan, ancien catéchiste et un des plus savants du royaume à Mr de Courtaulin pour l’instruire avec Om Dominique, catéchiste de Bo Nghee à nos lettres et les préparer à l’ordination.” (Journal du 30/12/1675)[9]

Cũng cha Vachet, trong thư gửi Ban Giám đốc Chủng viện Truyền giáo ngày 20-10-1677, ghi rõ: “Au retour de cette mission [dans la province de Quang-nghia] Mgr de Bérithe ordonna prêtre M. Louis Doan, l’un des plus anciens catéchistes et lettré du royaume” [10]: “Sau khi trở về từ nhiệm vụ ấy [tại phủ Quảng Nghĩa], Đức Cha Bêryt đã phong chức linh mục cho ông Louis Doan, một trong những thầy giảng kỳ cựu và học thức nhất tại vương quốc”. Doan trong Louis Doan có thể đọc là Doãn, Đoan, Đoàn hay Đoán…

Theo một lá thư Hán Nôm năm 1676 mà cha Adrien Launay
xuất bản trong Histoire de la Mission de Cochinchine, Tome I, Paris, Téqui, 1923, trang 195-196, tên vị linh mục này là Lui Đoán.[11] Ở đầu bộ Sấm truyền ca phiên bản quốc ngữ hiện còn giữ được, trong lời tựa ghi tại tại Cái Mơn, ngày 8 tháng chạp tây, năm 1820, ông Phan Văn Cận viết: “Truyền rằng sách Sấm truyền ca này là của thầy cả Lữ Y Ðoan đặt ra năm 1670 viết bằng chữ Nôm”. Như vậy, tên vị linh mục này còn một dạng Hán Nôm khác được phiên âm thành Đoan.

Với sự kiện Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525-1613) có tước hiệu là Đoan Quốc Công, ta có thể suy ra cha Lữ Y tên thật là Đoan nhưng do kỵ húy, thường được gọi là Đoán hay Đuớn (bị phiên âm lệch thành là Dưen hoặc Đướn).

Từ những chứng liệu ấy, tên gọi  Lữ Y Đoan mà ông Phan Văn Cận ghi rõ bằng quốc ngữ từ năm 1820 là chính xác và đầy ý nghĩa. Đoan là cam kết, là ngay thẳng, là chịu trách nhiệm. Những đặc tính ấy cũng thật xứng với vị linh mục tác giả của quyển Sấm truyền ca tuyệt tác này.

  1. Thầy giảng

Hội Thầy giảng là một mô hình truyền giáo rất hiệu quả, được hình thành ngày từ thời kỳ đầu của Giáo hội Việt Nam. Đây là một sáng kiến của các linh mục Dòng Tên đặc biệt trong thời gian đạo thánh bị bách hại, với phương châm: để người Việt loan báo Tin mừng cho người Việt.

Chúng ta không biết Lữ Y Đoan trở thành thầy giảng từ lúc nào. Tuy nhiên, cha của Lữ Y Đoan là cụ Anrê già cũng là một thầy giảng của cha Đắc Lộ, cho nên ngay từ sớm, Lữ Y Đoan được thừa hưởng rất nhiều tinh thần đạo Chúa từ người cha già mẫu mực đạo đức này.

Được thừa hưởng tinh thần “Thầy giảng” từ người cha mình, Lữ Y Đoan cũng làm thầy giảng, một thầy giảng uyên bác, ngoại hạng như sẽ thấy trong việc dịch Kinh thánh ra hàng vạn câu thơ lục bát mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong một bài viết khác. Thầy giảng Lữ Y làm việc dưới quyền của các cha Dòng Tên và sau nầy tiếp nối qua các linh mục thừa sai Paris.

Văn bản còn lưu truyền đến nay có nhắc đến việc Lữ Y Đoan làm thầy giảng là trong lá thư của thừa sai Vachet kể về chuyến thăm Đàng Trong lần thứ 2 của Đức cha Lambert vào ngày 22/11/1675:

“Một thầy giảng thông thái mà chúng tôi dự định cho chịu chức linh mục, đã hoàn tất việc viết một thánh lễ De Beata sang chữ Hán, để học cách phát âm tốt hơn.”[12]

Lữ Y Đoan là bậc đàn anh của Anrê Phú Yên xét cả về tuổi tác lẫn thời gian thi hành sứ vụ thầy giảng. Nếu lấy mốc làm thầy giảng cùng với Anrê Phú Yên khoảng năm 1641 cho đến năm 1676 là năm ngài chịu chức linh mục, khoảng 35 năm. Một khoảng thời gian đủ dài để cha Vachet gọi Lữ Y Đoan là một thầy giảng kỳ cựu nhất:

“Trở lại miền truyền giáo này, Đức cha Bêryte truyền chức linh mục cho thầy Louis Đoan, một trong các thầy giảng kỳ cựu nhất và là nho sĩ của vương quốc”.[13]

Như vậy, Lữ Y Đoan là một thầy giảng kỳ cựu, ắt hẳn đã làm việc dưới sự hướng dẫn của cha Alexandre de Rhode, của các cha dòng Tên và sau này là của các cha trong hội Thừa sau Pari. Ngài thừa hưởng lòng nhiệt thành, tính can trường của một chứng nhân của Đức Kitô từ người cha già. Đức cha Lambert nhận thấy những tố chất nơi vị thầy giảng kỳ cựu, uyên bác và can trường này nên đã truyền chức linh mục cho ngài, trở thành một trong những linh mục người Việt đầu tiên.

  1. Linh mục

Lữ Y Đoan được Đức cha Lambert truyền chức linh mục vào ngày 21/3/1676. Ngài là một trong những linh mục người Việt đầu tiên được lãnh chức linh mục và cũng là người đầu tiên được truyền chức linh mục tại Đàng Trong. Nhân chuyến kinh lý mục vụ Đàng Trong lần thứ hai (1675-1676), Đức cha Lambert đã truyền chức cho ngài.

Được truyền chức linh mục năm 1676. Lữ Y Đoan dâng lễ mở tay ngày 8 tháng chín trước sự hiện diện của 500 Kitô hữu đến từ khắp Quảng Nam. Thánh lễ cử hành tại Kẻ Chàm, ngay nơi trước đây Anrê Phú Yên đã làm chứng cho Chúa Kitô trong vinh quang, và đó cũng là căn nhà riêng của gia đình người em ruột mình tên là Emmanuel.

Mặc dù khoảng thời gian thi hành sứ vụ linh mục chỉ vỏn vẹn 2 năm. Năm 1678, ngài qua đời vì một cơn đau bụng, do nước độc. Thế nhưng, khoảng thời gian ngài làm linh mục quả thật rất quan trọng, trong bối cảnh Địa phận Đàng Trong mới được thành lập còn nhiều khó khăn về nhân sự, bị triều đình bách hại. Tinh thần kiên cường của một Kitô hữu với tư cách là một thầy giảng, về sau là một linh mục đã trở nên mẫu gương sống đạo rất đẹp cho người thời đó và những người thời sau này.

  1. Tác phẩm

Ắt hẳn với khả năng uyên thâm về văn chương, về tiếng Hán, Nôm, Lữ Y Đoan đã viết ra nhiều tác phẩm giúp đời, giúp đạo. Tuy nhiên, qua năm dài tháng rộng, những tác phẩm này lưu truyền lại đến chúng ta ngày nay chỉ còn 2 tác phẩm còn lưu dấu tư tưởng của ngài: Sấm truyền ca và tờ biểu tâu lên Đức Thánh Phapha năm 1667 của các thầy và giáo dân Đàng Trong.

Sấm truyền ca

Sấm truyền ca là một tuyệt tác văn chương của thế kỷ 17 trên quê hương đất Việt. Ra đời trước truyện Kiều của Nguyễn Du 150 năm, Sấm truyền ca được viết theo thể thơ lục bát dựa theo 5 quyển đầu trong bộ Kinh thánh của Công giáo. Tác phẩm này là sự kết hợp giữa văn hóa phương Đông và phương Tây, vừa chuyển tải nội dung Kinh thánh, vừa sử dụng lối diễn đạt mang đậm bản sắc dân tộc.

Bản Sấm truyền ca bằng chữ Nôm do chính Lữ Y Đoan chép đến này đã thất lạc. Chúng ta chỉ được biết Sấm truyền ca qua những bản dịch và bản chép tay. Sấm truyền ca diễn ca 5 quyển đầu trong bộ Kinh thánh là: Sáng thế, Xuất hành, Lêvi, Dân số, Đệ nhị luật. Đến nay, chúng ta chỉ còn bản chép tay Sấm truyền ca lục bát trọn vẹn 50 chương quyển Sáng thế có tên là Tạo đoan kinh và diễn ca 21 chương quyển Xuất hành có tên là Lập quốc kinh. Chúng tôi vẫn đang nỗ lực để tìm kiếm thêm những bản còn thất lạc.

Tờ biểu tâu Đức Thánh Phapha năm 1667 của các thầy và giáo dân Đàng Trong

Đây là bản tường thuật của thầy giảng Lữ Y Đoan ghi năm Đinh Mùi 1667 để làm chứng về cuộc tử đạo của Anrê Phú Yên. Bản chép tay ban đầu được viết bằng chữ Đàng Trong, có thể là chữ Hán hoặc chữ Nôm. Tuy nhiên bản này đã bị thất lạc. Chúng ta chỉ còn lại bản dịch năm 1672 do linh mục Pierre Langlois MEP đã dịch các chứng từ trên sang tiếng Latinh.

Bản tường thuật được dịch sang tiếng Latinh vẫn rất có giá trị về mặt lịch sử, ngôn ngữ và chứng từ trong hồ sơ phong thánh của Chân Phước Anrê Phú Yên. Đây là chứng từ của một thầy giảng lỗi lạc, kỳ cựu Lữ Y Đoan, làm chứng cho một thầy giảng trẻ tuổi Anrê Phú Yên, Người chứng thứ Nhất của Giáo hội Việt Nam chúng ta.

[1] AMEP, tập 877, tr. 582

[2] AMEP, tập 174, tr. 305.

[3] Lm. Nguyễn Hữu Trọng, “Les origines du Clergé Vietnamien”, in tại Sàigòn 1959, tr. 220.

[4] AMEP, tập 174, tr. 176.

[5] https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_Ho%C3%A0ng

[6] Năm 1906 đổi thành Phủ Thăng Bình, sau 1975 là huyện Thăng Bình

https://thangbinh.quangnam.gov.vn/

[7] http://huyenuythangbinh.vn/Default.aspx?tabid=328&Group=81&NID=1

manh-dat-con-nguoi-thang-binh-va-tinh-hinh-phat-trien-kinh-te-xa-hoi

[8] ALEXANDRE DE RHODES, Hành trình và Truyền giáo, Hồng Nhuệ dịch, UB Đoàn kết Công giáo, 1994, trang 150.

[9] AMEP, tập 877, tr. 576.

[10] Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, Tome I, sđd, trang 197.

[11] Đỗ Quang Chính, Dòng Tên Trong Xã Hội Đại Việt 1615-1773, nxb Tôn Giáo, 2008, trang 221.

[12] AMEP, tập. 877, tr. 571

[13]  AMEP, tập. 734, tr. 258.

* Lm. Lê Quang Thạch
Tài liệu tọa đàm Sấm truyền ca (1670) của linh mục Lữ Y Đoan (1608-1678)