Đọc Tạo đoan kinh

15/10/2025 237 lượt xem

Với những dân tộc sùng đạo Chúa, quyển Kinh thánh là nguồn cảm hứng vô tận của văn nghệ sĩ. Tại Việt Nam, chỉ sau vài chục năm, kể từ năm 1624 giáo sĩ Alexandres de Rhodes đến giảng đạo và lập giáo đường tại Phú Xuân, quyển Kinh thánh đã là nguồn cảm hứng cho một dòng văn học mới. Tác phẩm tiêu biểu cho ngành văn học này là bộ Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan, theo truyền thuyết hoàn thành bằng chữ Nôm vào năm 1670.

Lữ Y Đoan là người tinh thông chữ Nho, năm 1672 ông thụ phong linh mục tại Quảng Ngãi lúc đã trên 60 tuổi. Sách Sấm truyền ca viết bằng chữ Nôm, gồm năm sách đầu Kinh Cựu ước. Đến năm 1816 Si- mong Phan Văn Cận chuyển ngữ sang quốc ngữ, công việc này hoàn thành tại Cái Mơn năm 1820. Đến năm 1870, có người đào được tại Cái Nhum, Chợ Lách, Vĩnh Long, một hầm vô chủ trong đó có Sấm truyền ca. Ông Nguyễn Văn Thế chép lại sách này và truyền cho nhiều người biết. Đến năm 1908 Vêrô Trần Hớn Xuyên, vì hâm mộ Sấm truyền ca chép lại để giúp cho con cháu biết việc đóng góp của ông cha vào văn học.

Bộ Sấm truyền ca lưu truyền tới nay chỉ còn trọn vẹn tập Tạo đoan kinh qua hai bản chép tay, một của nhà báo Paulus Tạo thuộc tuần báo Nam Kỳ địa phận và một của nhà báo Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn. Bản của Paulus Tạo chép theo bản của Phêrô Trần Hớn Xuyên và một bản khác của một người cháu linh mục Phao lồ Qui. Việc sao lục của Paulus Tạo không rõ hoàn tất vào năm nào. Bản chép tay của Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn là bản sao lại một bản của Lm.Phao lồ Qui.

Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn còn chép lại già nửa tập Lập quốc kinh. Việc sao chép của Thaddoeus Nguyễn văn Nhạn hoàn tất năm 1956.

Năm 2000, Tập San Y Sĩ xuất bản tập Tạo đoan kinh tại Montréal, Québec, Canada, sao y bản của Paulus Tạo, kèm thêm Chỉ lục tên đất tên người trong sách để giúp người đọc dễ bề tra cứu và Mấy lời nói đầu của bản chép tay của Thaddoeus Nguyễn văn Nhạn.

Có hai điểm đáng ghi nhận qua lời Tựa của Phan Huy Cận và Trần Hớn Xuyên và Mấy lời nói đầu của Nguyễn Văn Nhạn. Một là Sấm truyền ca không được giáo quyền coi là một tài liệu truyền giáo; hai là lòng hâm mộ Sấm truyền ca của những người đã ra công sao chép và lưu truyền tập thơ này.

Về điểm thứ nhất, giáo quyền không nhìn nhận Sấm truyền ca là một điều hiển nhiên, Lữ Y Đoan làm thơ khởi hứng theo Kinh thánh. Tùy hứng thơ, tùy giới độc giả mà Lữ Y Đoan nhắm gửi gắm tác phẩm, Sấm truyền ca cũng như những tác phẩm của Paul Claudel, là những tác phẩm văn học. Về điểm thứ hai, công cuộc sao chép lưu truyền một tác phẩm văn học giá trị, nhiều khi là những tác phẩm bị chính quyền cấm đọc, là truyền thống có sẵn của người Việt trong mọi tôn giáo.

Câu hỏi chính là:

Sấm truyền ca đã lưu truyền ngoài ba trăm năm qua, chúng ta phải đọc tập thơ này ra sao?

Trả lời một phần nhỏ câu hỏi này là mục đích của bài viết này.

Với người ngày nay, đọc truyện trong Kinh thánh là đối mặt với một ngôn ngữ khác biệt và một thế giới khác biệt. Theo giới nghiên cứu Kinh thánh, người đọc Kinh thánh thấy mình như cô bé Alice lạc vào thế giới thần tiên, bước qua tấm gương của ngôn ngữ của chính mình và nhìn vào một thế gian xa lạ bằng nhãn quan riêng của mình.

Đọc Kinh thánh, người đọc chỉ có thể nhìn thấy cái thế giới xa lạ trải dài trước mắt bằng ngôn ngữ của chính mình. Ngôn ngữ tác động như một bộ máy lọc: những điều mà người đọc cảm nhận rồi viết ra là những điều mà ngôn ngữ của người đó có thể diễn tả nổi. Người đọc bản thuật lại cũng lại là một bộ máy lọc thứ hai, chỉ cảm nhận thấy những điều người viết viết ra bằng ngôn ngữ của mình. Dầu chỉ là sáng tác khởi hứng từ Kinh thánh, cái khó của Lữ Y Đoan cũng như cái khó của người ngày nay đọc Lữ Y Đoan là khoảng cách trong không gian và trong thời gian giữa những truyện trong Kinh thánh và thế giới thực tại đương thời. Trở ngại này có thể thu nhỏ phần nào với những cách đọc ngày nay dùng kỹ thuật quen biết trong văn học đối chiếu, cùng những phương pháp ứng dụng ngữ hiệu, cũng như hiệu chứng.

Sấm truyền ca là một áng thơ tác giả khởi hứng từ Kinh thánh, người Á Đông làm thơ thường gửi ý tại ngôn ngoại, tất nhiên người đọc thơ phải tìm ra ý tác giả gửi ngoài lời. Ngay chính Paul Claudel, một nhà thơ gốc người Pháp nhưng từng sống nhiều năm tại Trung Quốc và Nhật Bản, cũng dùng cách này sáng tác bộ sách ngoài ba ngàn trang Le Poète et La Bible.

Câu hỏi là làm sao nhận ra trọn vẹn ý thơ ngoài lời của tác giả? Lời giải đáp câu hỏi này thấy qua thoại sau đây. Nữ hoàng Võ Tắc Thiên nhà Đường cảm thấy khó nắm được ý nghĩa chữ viên dung. Nhà luận sư Pháp Tạng của Hoa Nghiêm tông, không giải thích bằng lời mà sai người đặt nhiều mặt kính quanh một ngọn nến đốt sáng. Ánh sáng từ ngọn nến đặt tại tâm điểm giàn kính phản chiếu trong tất cả các mặt kính, và mỗi ảnh phản chiếu này lại phản chiếu qua tất cả các mặt kính, tạo ra một hình ảnh giao hưởng toàn diện của các luồng sáng. Tương truyền nhờ sự kiện này tâm trí của nữ hoàng bỗng sáng tỏ.

Chữ viên dung, theo Suzuki là một lối nhìn nhắm thẳng vào thế giới và tâm linh […] trong một phong thái mà tất cả có thể xuất hiện cùng lúc rất ư kỳ ảo, vượt xa ngoài những giới hạn của tục thức. Suzuki so sánh nhãn quan này với quan niệm về những tổng thể cụ thể của Hégel. Mỗi một thực tại cá biệt ngoài tính cách nó là nó, còn mang hình ảnh phản chiếu của một tổng thể nào đó, và đồng thời nó vẫn chính là nó, vì có những cá thể khác nó. Một màng lưới toàn diện của những quan hệ hỗ tương liên kết những sự vật riêng rẽ và những ý tưởng tổng quát. Phải có nhãn quan viên dung mới nắm được ý ngoài lời trong thơ.

Dường như Lữ Y Đoan có thiện ý giúp người đọc tạo ra nhãn quan viên dung. Thiện ý đó Lữ Y Đoan đặt trong ba chữ Tạo đoan kinh mà ông dùng để dịch tựa đề Genesia, mà nghĩa chính là sáng thế và sách này mở đầu bộ Cựu ước mà người Trung Quốc và người Việt Nam thường dịch là Sáng thế ký. Chữ ký thường dùng chỉ một cuốn tiểu thuyết, như Tây Sương ký, Mai Đình mộng ký v.v… Chữ Kinh mà Lữ Y Đoan chọn đây, phải chăng là nhằm đặt Tạo đoan kinh lên cùng một địa vị ngang với Tứ thư ngũ kinh của Khổng học, Đạo đức kinh của Lão Tử, Nam hoa kinh của Trang Tử, hai bộ kinh căn bản của Đạo Lão, cùng thiên kinh vạn quyển của Đạo Phật? Chữ Kinh này phải chăng như để nhắn nhủ người đọc muốn có nhãn quan viên dung để đọc Sấm truyền ca thì dùng kinh sách của Khổng Lão Phật làm những tấm kính phản quang như trong giàn kính của luận sư Pháp Tạng.

Tiếp theo Lữ Y Đoan còn tóm tắt ý chính của Tạo đoan kinh trong bốn câu thơ:

Khai sáng càn khôn

Tạo đoan phu phụ

Âm dương hỗ trợ

Sinh hóa trường tồn.

 

Mười sáu chữ thẩy là mười sáu chữ nho. Trong câu thứ nhất hai chữ càn khôn là tên hai quẻ trong kinh Dịch biểu tượng cho trời đất. Bốn chữ trong câu thứ hai là bốn chữ thu ngắn một câu trong sách Trung Dung:

Quân tử chi đạo, tạo đoan hồ phu phụ, cập kỳ chí giã, sát hồ thiên địa.

Theo Trần Trọng Kim nghĩa là đạo người quân tử lập mối đầu ở những điều mà những kẻ thất phu thất phụ biết được làm được mà lên đến cùng cực thì rõ việc trời đất. Hai câu thứ ba và thứ tư nhắc đến thuyết âm dương hỗ trợ tạo nên muôn vật từ xưa tới nay của Khổng học. Bốn câu thơ trên, như vậy phải chăng cho thấy ý muốn của Lữ Y Đoan theo đạo lý Khổng học để sáng tác Tạo đoan kinh? Đọc vào trong sách, người đọc đều nhận ra nhiều hình ảnh quen thuộc rút từ sách Đạo Lão cũng như Đạo Phật. Như vậy, để có thể nhận ra ý tại ngôn ngoại của Lữ Y Đoan gửi gắm trong Tạo đoan kinh, những tấm kính trong đài gương của Pháp Tạng phải chăng chính là những kinh sách của ba Đạo Khổng Lão Phật? Trong giới hạn của bài viết này, phương pháp đài kính chỉ riêng áp dụng cho hai điểm đề xướng sau đây: một là 13 câu mở đầu Kinh thánh kể sự tích tạo lập trời đất trong ba ngày đầu, và hai là đoạn 3 sách Sáng thế ký kể chuyện sa ngã của Adam và Eve trong vườn địa đàng.

Trước tiên là hình ảnh người viết Kinh thánh dùng trong những câu I:1-13, ghi truyện ba ngày đầu sáng thế.

 

Kinh thánh chép:

Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất.

Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.

Thiên Chúa phán: Phải có ánh sáng. Liền có ánh sáng.

Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp và phân rẽ ánh sáng và bóng tối.

Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, bóng tối là đêm. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.

Người đọc Kinh thánh ngày nay thường hiểu năm câu trên đây như sau.

Trong câu mở đầu Kinh thánh, chữ lúc khởi đầu tương ứng với chữ In principo, theo bản tiếng La tinh, hai chữ này dịch là theo nguyên lý. Trong lúc khởi đầu này, Không gian và Thời gian đều chưa được tác tạo nói gì đến con người và ngôn ngữ con người. Thế nên khó mà lãnh hội được những điều này bằng tri thức hay bằng tưởng tượng của con người ngày nay. Tuy nhiên, ai ai cũng đều biết rằng tất cả những điều viết trong Sách thánh đều viết ra để giáo hóa chúng ta (2 Timôthê 3,16). Như vậy, người đọc Kinh thánh ngày nay đứng giữa hai ngả: một là cảm ứng với những điều viết trong Kinh thánh vào giai đoạn này theo kinh nghiệm sống riêng tư, theo tri thức cá nhân, cũng như theo ngôn ngữ hiện nay của mình, hai là hiểu theo những điều dẫn giải của những triết gia, những thầy giảng Kinh thánh. Paul Claudel (1868-1955), tác giả cuốn Le Poète et la Bible, đã chọn ngả thứ nhất, vì theo ngả đó người đọc Kinh thánh mới thấy được điều hay cái đẹp, cho riêng mình, trong Kinh Thánh, dầu cái biết cái thấy cá nhân đó thô thiển chất phác kém xa những điều giảng dậy cao xa viết sẵn trong kinh luận.

Trở lại Kinh thánh: Theo nguyên lý Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Chữ nguyên lý này không chỉ biểu thị điểm bắt đầu của một kỷ nguyên mới, mà biểu thị điểm bắt đầu một trật tự thuần lý tuyệt đối và thăng hóa. Thiên Chúa khởi đầu bằng cách xác định đường hướng của công cuộc sáng tạo của Người.

Nguyên lý đó là gì? Câu trả lời đọc thấy trong sách Tân ước: Trong nguyên lý có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa (Gioan 1,1). Theo nguyên lý, theo Ngôi Lời, Thiên Chúa hoàn tất, bằng chính lời nói của Người, việc sáng tạo: Đấng hằng hữu muôn đời đã tạo thành vạn vật (Huấn Ca 18,1).

Theo nguyên lý, nghĩa là trước khi có thời gian, trước khi phát hiện ánh sáng, trước khi có một buổi chiều và một buổi sáng, trước khi bắt đầu một chuỗi Bảy Ngày. Trước khi Trời Đất tách biệt làm hai. Kinh thánh chép: Trời và Đất: hai vật thể cùng được sáng tạo đồng thời. Đất: không phải là vầng dương, không phải là tinh tú, mà là trái đất nhỏ bé này, nơi con người sinh sống trong cái vô cùng của không gian, và đó là thiên hứng của Chúa Trời tự hữu toàn nguyên.

Trời. Trời nào? Theo Kinh thánh có ba tầng trời, (Côrintô 12,6) và còn có nhiều trời khác, vì theo kinh Lạy Cha: Lạy Cha chúng tôi ở trên trời, mà Kinh thánh chữ Pháp chép là Notre Père, qui êtes aux cieux (Mátthêu 6,9). Có vòm trời gồm khí quyển, có vòm trời nhật động, và có vòm trời mà Thiên Chúa gọi đó là vòm trời (Sáng thế 1,8)

Vòm trời thứ ba là nơi cư ngụ của các thiên thần. Đó là vòm trời của Chúa. Còn đất thì Chúa ban cho con cái loài người (Thánh vịnh 113,16). Ngoài vòm trời này còn cả một khối nước phía trên bầu trời (Thánh vịnh 148,4). Chính Thiên Chúa đã từng nói tới vòm trời này: Ta sẽ lên trời, ta sẽ dựng ngai vàng của ta trên cả các vì sao của Thiên Chúa (Isaia 14,13).

Sang câu Kinh thánh thứ 2: Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng,

Trước mắt Hóa Công, đất mang một hình ảnh tiêu cực: trống rỗng và chưa có hình dạng, và bóng tối bao trùm vực thẳm. Bóng tối này không phải là bóng đêm, đối nghịch với ánh sáng, kiệt tác của Hóa Công trong ngày thứ nhất. Bóng tối này là bóng tối mà đến các thiên thần cũng không vào nổi. Những vực thẳm này kêu gào vực thẳm, khi tiếng thác của ngài tuôn đổ vang ầm (Thánh vịnh 41,8). Một trạng thái tuyệt đối vô trật tự, một cõi trong đó chưa có một vật nào thành hình, tất cả là những biến đổi liên tục. Tri thức con người khó mà hình dung ra nổi. Và trên đó thần khí Chúa Trời bay lượn, như tâm trí người nghệ sĩ bay lượn trên tác phẩm của mình. Thần khí linh thiêng này là điều kiện tạo ra đời sống, con người không bao giờ ngưng tái tạo thần khí đó.

 

Và nước. Nước là hình ảnh tích cực duy nhất trước ngày sáng thế đầu tiên. Kinh thánh chữ Pháp chữ Anh đều chép chữ nước này theo số nhiều, phải chăng là ngụ ý nước lúc này khác với nước mà con người hằng quen biết. Trong ngày sáng thế thứ hai, Thiên Chúa tạo ra một cái vòm phân rẽ nước dưới vòm và nước phía trên. Về truyện có nước trên vòm trời thứ ba, thánh Augustin nói: uy quyền của Kinh thánh cao cả hơn khả năng hiểu biết của con người; Thánh Thomas kết luận rằng: bất kỳ nước đó là gì, bất kỳ bằng cách nào nước lên trên vòm trời, chúng ta cũng không mảy may nghi ngờ là có nước ở trên vòm trời thứ ba. Trong Kinh thánh có nhiều câu liên quan tới nước huyền bí này.

Sách Khải huyền 4,6 chép: Trước ngai có cái gì như biển trong vắt tựa pha lê. Thánh vịnh 135, 5-6: Một dòng sông chảy ra bao nhánh, đem niềm vui về cho thành của Đức Chúa Trời. Thánh vịnh 32,4: Chúa dồn dại dương về một chỗ, Người đem biển cả trữ vào kho.

Người chép Kinh thánh chép những đoạn này với mục đích gì? Phải chăng là để nhấn mạnh trên điểm là nước khi Chúa phán vòm trời tách làm hai là một thứ nước linh thiêng khác với nước con người có ngày nay?

Để biết được nước linh thiêng này khác với nước con người có ra sao, cách hay nhất là xét kỹ xem nước thông thường là gì. Vì có biết rõ công trình tạo tác hiển hiện của Chúa, con người có thể nhìn ra những công trình không hiển hiện của Chúa. Như vậy phải chăng là có thể có nhiều hy vọng nhìn thấy sự thật hơn là chỉ căn cứ vào trí tưởng tượng.

Nước có thể tích mà không có hình. Hình ngoài của nước là hình của vật chứa đựng nước. Nước có thể chia thành nhiều phần, mà chẳng phần nào khác phần nào. Nước có thể tái tạo vô cùng tận. Nước như vô tình, như có bị nhiễm ô cũng có thể tự lọc sạch. Nước trong suốt để ánh sáng đi qua. Nước len lỏi vào mọi ngóc ngách nếu có cơ hội. Nước là nguồn nuôi dưỡng mọi sinh vật. Nước thanh tẩy. Nước bao bọc. Nước phản ánh…

Phải chăng tất cả những đặc tính trên đây của nước, trên mặt thăng hóa biểu thị cho Nước trong ngày thứ nhất sáng thế?

3Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng.” Liền có ánh sáng. 4Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. 5Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.

Thiên Chúa không sáng tạo ra ánh sáng như Thiên Chúa đã tạo ra trời đất. Thiên Chúa phán gọi ánh sáng. Ánh sáng không hiện ra từ một nguồn sáng như ánh sáng của ngọn đèn. Ánh sáng xóa bóng tối và bóng tối không dập tắt nổi ánh sáng (Gioan 1,5). Ánh sáng tốt đẹp vì nhờ ánh sáng của Ngài, chúng con được nhìn thấy ánh sáng (Thánh vịnh 35,10). Nhờ có ánh sáng nên có ngày có đêm, có thời gian. Đó cũng là cái khác biệt thứ nhất Thiên Chúa tạo ra trong ngày thứ nhất.

6 Thiên Chúa phán: Phải có một cái vòm ở giữa khối nước để phân rẽ nước với nước. 7 Thiên Chúa làm ra cái vòm đó và phân rẽ nước phía dưới vòm với nước phía trên. Liền có như vậy. 8Thiên Chúa gọi vòm đó là trời. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai.

Thiên Chúa tạo ra cái vòm: Thiên Chúa tạo ra hình dạng. Thiên Chúa tạo vòm trời: Thiên Chúa tạo ra một tạo vật mới: không gian. Trên tạo vật này có Nước, khác với nước ở dưới. Nước ở trên và nước ở dưới cái vòm không khác nhau vì định sở mà khác nhau vì bản chất.

Đó là sự khác biệt thứ hai Thiên Chúa tạo ra trong ngày thứ hai.

9Thiên Chúa phán: “Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra.” Liền có như vậy. 10Thiên Chúa gọi chỗ cạn là “đất”, khối nước tụ lại là “biển”. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.

11Thiên Chúa phán: “Đất phải sinh thảo mộc xanh tươi, cỏ mang hạt giống, và cây trên mặt đất có trái, ra trái tuỳ theo loại, trong có hạt giống.” Liền có như vậy. 12Đất trổ sinh thảo mộc, cỏ mang hạt giống tuỳ theo loại, và cây ra trái, trong trái có hạt giống tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. 13Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.

Thiên Chúa tạo thêm sự chia đôi khối nước dưới vòm trời, sinh ra đất và biển. Rồi tiếp tục tạo sinh ngàn cây vạn cỏ trong ngày thứ ba.

 

Trên đây là nhãn quan của người đọc Kinh thánh ngày nay, chú ý tới chuỗi hình ảnh trong ba ngày đầu Sáng thế: công cuộc phân đôi Trời, với Nước, ánh sáng với bóng tối, Nước với Đất, các loài Cây Cỏ.

 

Khởi hứng từ đoạn Kinh thánh trên đây, Lữ Y Đoan viết những vần thơ sau:

1Hằng sinh Thượng đế đại quyền,

Tự không sáng tạo phán truyền hằng khai;

Càn khôn phút chốc phôi thai

2Hư hư hàn vũ dày dày u minh.

Thánh thần sinh hóa vận trình,

3Đột nhiên quang ánh lộ hình khắp nơi.

4Ban khen trong sáng tuyệt vời,

Liền sinh lưỡng vực muôn đời đối nhau:

5Gọi ngày, dương khí làu làu

Gọi đêm, âm khí phủ bao mịt mờ,

Hoàng hôn chuyển tiếp minh sơ,

Chu kỳ thứ nhất, thiên cơ ứng hành.

6Không gian phát động mở màn,

7Thủy hành nhị khí rành rành dưới trên.

8Trên thì danh gọi cao thiên,

Chiều đi mai đến tiếp liên chu kỳ.

9Thổ phân, thủy lập biên thùy

10Thổ là đại lục, thủy thì đại dương

11Lịnh ban hành mộc tự cường,

12Ngàn hoa vạn thảo ứng tường phát sinh.

13Tạo trình đạt mức tốt lành,

Chu kỳ chiều sáng giai tầng thứ ba.

Bài viết này không nhắm so sánh giáo lý, mà chỉ mong muốn tìm ra vài ý tại ngôn ngoại trong thơ Lữ Y Đoan. Bắt đầu là hai câu mở sách:

1Hằng sinh Thượng đế đại quyền,

Tự không sáng tạo phán truyền hoằng khai;

Càn khôn bỗng chốc phôi thai

Câu thứ nhất dường như hoàn toàn là ý thơ của Lữ Y Đoan, khởi từ lòng kính yêu Thượng đế của tác giả, vì câu 1 trong Kinh thánh:

 

1Lúc Khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất

 

Trong câu thứ hai dựa theo câu mở đầu Kinh thánh, ngoại trừ hai chữ tự không. Chữ không đây chẳng phải là chữ không đối nghịch với chữ có, như người mình thường nói có bột mới gột nên hồ. Chữ không đây nhắc người đọc thơ liên tưởng tới lời Trần Trụ, một nhà phê bình sách Đạo đức kinh của Lão tử sống vào đầu thế kỷ XX:

Đạo ẩn nhi vị hình, cố vị chi Vô.

Đạo ẩn chưa lộ hình, gọi là không. Vậy chữ không này tương ứng với chữ Đạo, như Trang Tử viết trong thiên Đại tông sư, sách Nam hoa kinh:

Phù Đạo […] tự bản tự căn, vị hữu thiên địa […] sinh thiên sinh địa. Nghĩa là:

Kìa Đạo […] tự mình là gốc, tự mình là rễ, có trước trời đất […] tạo ra trời tạo ra đất.

Phải chăng hiểu chữ không như vậy, người đọc nhận ra ý hai chữ Hằng sinh và đại quyền trong câu thứ nhất. Điều mới lạ ở hai câu này, đối với người đồng thời không biết đạo Chúa, là Lữ Y Đoan đã lấy chữ Thượng đế để thay thế chữ Đạo. Trong câu thư ba, hai chữ càn khôn là tên hai quẻ trong Kinh Dịch của Khổng học, người Đông Á dùng để chỉ trời và đất. Hai câu thứ tư và thứ năm:

“Hư hư hàn vũ, dày dày u minh Thánh Thần sinh hóa vận trình”, tương ứng với câu 2 trong Kinh thánh, “Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước”

Chuỗi hình ảnh trong câu Kinh thánh trích dịch trên đây có nhắc người đọc thơ nhớ tới hình ảnh Lão Tử dùng mô tả cái thể của Đạo trong Chương XIV:

Kỳ thượng bất kiểu, kỳ hạ bất muội, thằng thằng […] phục quy ư vô vật.

Thị vị vô trạng chi trạng, vô vật chi tượng […] nghinh chi bất kiến kỳ thủ, tùy chi bất kiến kỳ hậu.

Nghĩa là:

Trên nó thì không rõ rệt, dưới nó không mờ tối, dằng dặc […] trở lại chỗ không có vật. Ấy gọi là hình trạng không hình trạng, hình trạng của cái không có vật […] đón nó không thấy đầu, theo nó không thấy đuôi.

Nó đây là Đạo, không rõ rệt, không mờ tối, như có mà như không, như không mà không hẳn không, dằng dặc không dứt, vẫn trở lại chốn không có vật. Vật có hình trạng như không hình trạng, vật có vật như không có vật, vật ấy không có đầu không có cuối, vật ấy là Đạo vô thủy vô chung, mà muôn vật từ đó nẩy sinh. Lão Tử còn mô tả hình ảnh Đạo trong chương XXV:

Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh

Tịch hề liêu hề, độc lập bất cải,

Chu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu.

Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết Đạo, cưỡng vị chi danh.

Nghĩa là:

Có vật hỗn độn mà nên, sinh trước trời đất, yên lặng, rỗng không, không hề thay đổi, đi khắp chốn không mệt đáng lấy làm mẹ thiên hạ.Ta chẳng biết tên Nó là gì, gượng gọi Nó là Đạo.

Cái vật hỗn độn mà thành đó, Lão tử chỉ biết là Nó có từ trước trời đất. Nó yên lặng, rỗng không, không có thể chất, không có hình dạng, xoay vần không ngừng, không có vật nào cùng Nó sánh nổi, Nó đáng coi là mẹ vạn vật dưới trời này. Lão Tử chẳng biết gọi tên Nó là gì, gượng gọi là Đạo.

Trở lại Tạo đoan kinh, trong bẩy câu, từ câu sáu tới câu mười hai, Lữ Y Đoan mô tả công việc sáng thế trong ngày thứ nhất của Thiên Chúa. Thiên Chúa phán gọi ánh sáng tách rời bóng tối, Thiên Chúa tạo ra ngày đêm. Bốn câu tiếp, tả công trình của Thiên Chúa trong ngày thứ hai, Thiên Chúa phân cách nước tạo ra trời đất.

Công  trình  sáng  thế  của  Thiên  Chúa  trong  hai ngày đầu như vậy    gồm những việc chia hai: chia hai bóng tối và ánh sáng; chia hai ngày và đêm; chia hai khối nước bằng vòm trời.

Công trình sáng thế này dường như song song với công trình của Đạo, như Lão Tử mô tả trong chương XLII:

Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị,

nghĩa là:

Đạo sinh ra một, một tạo ra hai. Câu này đi đôi với câu sau đây trong chương XL:

Thiên hạ vạn vật sinh ư hữu, hữu sinh ư vô.

Nghĩa là:

Muôn vật dưới trời sinh từ cái Có, cái Có sinh từ cái Không. Cả hai câu như gợi tới câu Kinh Dịch, thiên Hệ từ:

Dịch hữu Thái Cực, thị sinh lưỡng nghi.

nghĩa là:

Dịch có Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng Nghi.

Cùng một câu trong Kinh Lễ, thiên Lễ Vận:

Lễ tất bản ư Thái Nhất, phân nhi vị thiên địa, chuyển nhi vi âm dương.

Nghĩa là:

Thái nhất là Một, Một sinh ra hai là trời đất âm dương.

Tóm lại cả ba sách cùng một ý là từ Không tự tạo ra Đạo là một, rồi từ Đạo sinh ra hai.

Sáu câu tiếp, Lữ Y Đoan mô tả công trình của Thiên Chúa trong ngày thứ ba: Thiên Chúa phân tách khối nước dưới vòm trời thành đất và biển; rồi Thiên Chúa bắt đầu công trình sáng tạo vạn vật, bắt đầu bằng ngàn hoa vạn thảo.

Lão Tử cũng chép một công trình tương tự của Đạo trong chương XL, tiếp theo câu trích dẫn trên đây:

Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật; nghĩa là: Đạo sinh Một, Một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh muôn vật.

Trong sách Nam Hoa kinh, thiên XIV, Trang Tử nói rõ hơn về việc sinh sản này trong thiên Điền Tử Phương, sách Nam Hoa kinh:

 

Chí âm túc túc, chí dương hách hách,

túc túc xuất hồ thiên, hách hách xuất hồ địa; lưỡng giả giao thông, thành hòa nhi sinh vật yên.

Nhượng Tống dịch là:

Cái rất âm thì chằm chằm, cái rất dương rất thì rờ rỡ. Chằm chằm ra từ trời, rờ rỡ nẩy từ đất; hai cái đó giao thông, hóa sinh ra vật vậy.

Đó là ý ngoài lời thơ Lữ Y Đoan gói gọn trong hai chữ từ không trong câu thứ hai tập Tạo đoan kinh, mà người đọc thơ nhìn thấy qua dàn kính viên dung.

Sau đây, bài viết vẫn theo phương lý dàn kính viên dung, tìm ý tại ngôn ngoại trong thơ Lữ Y Đoan, riêng trong đoạn III tập Tạo đoan kinh.

Đoạn này thuật truyện sa ngã của người đàn ông và người đàn bà trong vườn địa đàng.

Đúng ra câu chuyện bắt đầu từ câu 9 trong đoạn II:

9Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp ăn thì ngon, với cây sinh tồn ở giữa vườn, và cây tri thức thiện ác.

 

và tiếp theo là hai câu 16 và 17:

16Đức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng: Hết mọi trái cây trong vườn ngươi cứ ăn 17nhưng trái cây nhận thức thiện ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ chết.?

Sang tới đoạn III:

1Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng mà Đức Chúa là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: Có thật Thiên Chúa bảo: Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?

2Người đàn bà nói với con rắn: Trái các cây trong vườn thì chúng tôi được ăn.

3Còn trái cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: Các ngươi không được ăn, không được động tới kẻo phải chết.

4Rắn nói với người đàn bà: Chẳng chết chóc gì đâu!5Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó thì mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà biết điều thiện điều ác như những vị thiên thần.

6Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn.

7Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân.

8Nghe thấy tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc xế chiều, con người cùng vợ ẩn mình dưới lùm cây trong vườn để tránh mặt Đức Chúa là Thiên chúa. Đức Chúa là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: Ngươi ở đâu?

10Con người thưa: Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi, vì trần truồng nên con lẩn trốn.

11Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi: Ai đã cho ngươi hay là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái trái cây mà ta cấm ngươi ăn không?

12Con người trả lời: Người đàn bà Ngài cho ở cùng con đã cho con trái cây ấy và con trót ăn.

13Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: Sao ngươi làm vậy? Người đàn bà thưa: Con rắn đã lừa con, và con trót ăn,

14Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn: Bởi mi làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc sinh và mọi loài dã thú. Mi bò bằng bụng, ăn bụi đất ngày ngày trọn đời mi.

15Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa nòi giống mi và nòi giống người đàn bà: nòi giống họ sẽ đánh dập đầu mi, và mi sẽ cắn lại vào gót nó.

16Chúa phán với người đàn bà: Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ còn phải cực nhọc lúc sinh con. Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi, và nó sẽ thống trị ngươi.

17Với con người Chúa phán: Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta truyền rõ là ngươi đừng ăn nó! Nên đất đai vì ngươi mà bị nguyền rủa; suốt đời ngươi ngày ngày ngươi sẽ phải cực nhọc mới kiếm từ đất ra được miếng mà ăn.

18Đất đai sẽ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng.

19Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán để có bánh ăn, cho tới ngày mi trở về với đất, vì từ đất cất ra mi. Ngươi là cát bụi và ngươi sẽ trở về với cát bụi.

20Con người đặt tên cho vợ là Evà, vì bà là mẹ của mọi chúng sinh.

21Đức Chúa là Thiên Chúa làm cho con người và vợ gã những bộ áo bằng da thú và mặc cho họ.

22Đức Chúa là Thiên Chúa nói: Nay con người đã trở nên một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác. Bây giờ đừng để nó đưa tay ra hái trái cây sinh tồn và sống mãi mãi.

23Đức Chúa là Thiên Chúa đuổi con người ra khỏi vườn Êđen, để cày cấy đất đai, từ đó con người đã được cất ra. 24Người trục xuất con người và ở cửa Đông vườn Êđen, Người đặt các thần hộ giá mang gươm sáng lóe, để canh giữ đường tới cây trường sinh.

 

Câu hỏi đầu tiên là người đọc Kinh thánh ngày nay nhìn thấy những gì trong cảnh giới vườn địa đàng?

Trước hết là cây sinh mệnh và cây nhận thức thiện ác. Hai tên cây sinh mệnh và cây nhận thức thiện ác đều dịch theo Kinh thánh của người Trung Hoa, bản in tại Hương Cảng năm 1977, Tòa Tổng giám mục chuẩn hứa ngày 11 tháng hai năm 1968. Chữ sinh mệnh dịch chữ tree of life trong Kinh thánh chữ Anh và chữ arbre de vie theo Kinh thánh chữ Pháp. Bản Kinh thánh trọn bộ in năm 1998 tại Saigon dịch là cây trường sinh. Trong câu 2:9 cây này chưa mang ý nghĩa trường sinh, ý này là do lời Chúa phán trong câu 3:22. Cây nhận thức thiện ác dịch chữ tree of knowledge of good and evil theo Kinh thánh chữ Anh và dịch chữ arbre de la connaissance du bien et du mal theo Kinh thánh chữ Pháp. Kinh thánh trọn bộ xuất bản tại Saigon dịch là cây cho biết điều thiện điều ác. Nhóm phiên dịch Kinh thánh trọn bộ bỏ chữ knowledge hay chữ connaissance thường quen dịch là trí thức. Trong mạch văn Kinh thánh, chữ knownledge hay connaissance còn có nghĩa là ăn nằm, thu ngắn thành ngữ ăn cùng mâm nằm cùng giường giữa hai vợ chồng, như trong những câu 4:1, 17,25; 19:5,8 và 38:26 sách Sáng thế. Trong những câu dẫn chứng chữ tri thức không hợp nghĩa, nên trong bài này, người viết xin dùng chữ nhận thức theo bản Kinh thánh chữ Trung Quốc. Có nhiều người đọc Kinh thánh ngày nay còn đề nghị đổi hai chữ thiện ác thành tốt xấu, lấy cớ rằng chữ thiện ác mang nặng mầu sắc đạo đức luân lý, và hai chữ tốt xấu biểu thị rộng rãi hơn sự đối nghịch tạo nên bởi kinh nghiệm bản thân, ứng dụng cả cho người và vật, nên thích hợp với mạch văn hơn.

Trở lại Kinh thánh, Chúa Trời, trong sáu ngày sáng thế, đã tác tạo ra nhiều khác biệt: sáng khác với tối, ngày khác với đêm; trời khác với nước, đất khác với biển; khác biệt giữa muôn loài thảo mộc; trời khác với trăng khác cả với sao; khác biệt giữa muôn loài cá dưới nước, khác biệt giữa muôn loài chim trên trời; thú dữ khác thú lành cùng khác loài bò sát, rồi tới người đàn ông khác người đàn bà. Trong vườn địa đàng, mọi cây thẩy đều trông thì ngon mắt ăn thì ngon miệng. Giữa vườn Chúa cho mọc cây sinh mệnh và cây nhận thức tốt xấu. Chúa Trời lấy cái chết ra để ngăn cấm con người ăn cây nhận thức tốt xấu. Chúa Trời tạo thêm cái khác biệt giữa cái sống và cái chết.

Con người khi đó chưa biết phân biệt, sống yên vui trong vườn địa đàng, ăn mọi cây không phân biệt cây này với cây kia, đặt tên cho chim muông mà không thấy con này khác con nọ; nhìn cái sống mà không biết sống khác chết. Câu 2:24 mô tả cảnh hợp hoan giữa đàn ông và đàn bà, nhưng cả hai, dẫu không có chút gì che thân, cùng không biết đến sự khác biệt giữa người này với người nọ. Chúa Trời cấm con người ăn cây nhận thức xấu tốt. Phải chăng Chúa Trời không muốn con người có khả năng phân biệt như Chúa Trời?

Rồi, con rắn, con vật giảo hoạt nhất giữa mọi loài trong thảo dã, hiện ra nói với người đàn bà rằng ăn cây nhận thức tốt xấu thì ông bà sẽ mở mắt ra mà sẽ không chết. Nghe lời con rắn, người đàn bà vượt lời Chúa Trời răn, ăn cây nhận thức xấu tốt và đưa cả cho chồng cùng ăn. Thế là hai người cùng được mở mắt, hai người vụt có khả năng phân biệt như các bậc thánh thần: thấy mình trần truồng, thấy mình khác người kia, thấy ngượng ngùng phải kết lá che thân, nhưng còn biết được khả năng sinh sản của con người. Phải chăng biết phân biệt, con người biết được là mình khác với Chúa Trời khiến biết sợ Chúa Trời, vì biết nghe lời Chúa Trời, tuy vừa đó đã vượt lời răn Chúa Trời?

Trước khi mở mắt phân biệt, con người an nhiên trong vườn địa đàng giữa sự hòa hợp và duy nhất. Sau khi có khả năng phân biệt thì có làm mới có ăn. Biết phân sống chết là biết sinh mạng chẳng phải là thường hằng, sinh mạng có giới hạn trong thời gian. Biết nam nữ khác biệt, biết việc hợp hoan có khả năng sinh sản, con người không được ăn cây sinh mạng để sống đời đời được nữa mà phải cực nhọc trong việc thai nghén trong việc sinh đẻ để giữ cho nòi giống được sinh tồn, cũng như phải chết để nòi giống được sinh tồn.

Biết phân biệt, biết có khả năng sinh sản, quả đúng như lời con rắn đã nói với người đàn bà, và cũng chính Chúa Trời đã xác nhận, con người đã giống như thánh thần, nhưng con rắn không biết trọn vẹn sự thực. Mở mắt ra chính con người thấy mình khác với Chúa Trời. Con người chỉ có mạng sống giới hạn, Chúa Trời là thường hằng. Biết xấu tốt mới chỉ thấy đối nghịch, thấy gián đoạn, thấy sinh sản, riêng có Chúa Trời mới là Đấng Toàn Năng tạo sinh, mới thường hằng, mới là Một, mới là Tất Cả.

Tóm lại, chỉ vì có được khả năng biết phân biệt Adam và Eve đã bị đuổi khỏi vườn địa đàng, như Suzuki đã đoan quyết. Khởi hứng từ đoạn Kinh thánh trích dẫn trên đây, Lữ Y Đoan viết:

1Cũng như các vật sinh cư,

Có loài rắn quái ngao du mạn đàm.

2Hỏi sao các trái cấm ăn?

Đáp: ăn được hết,3chỉ ngăn song tường

Nếu ăn mang họa tử vong.

4Rằng: không phải vậy! 5Trời phòng ai ăn

, Sẽ nên minh triết như thần,

Rõ điều thiện ác, sánh bằng trời cao.

6Nghe qua, thấy trái tươi mầu,

Nữ nhân bèn hái, ăn vào khá ngon.

Lại đem mời gã đàn ông,

7Đột nhiên tự thẹn trần truồng cả hai.

Vội vàng che đỡ lá cây,

8Xa nghe Thượng Đế chiều nay viếng vườn.

Chui vào bụi rậm ẩn nương.

9Bỗng nghe tiếng gọi A-dong đâu rồi?

10 “Lạy Trời hổ thẹn hai tôi,

Tấm thân tồi tệ hết lời phân bua.

11Nói ra thì cũng bằng thừa,

Không ăn trái cấm, ai đưa cảnh này

12Tại người mà Chúa trao đây”

13Sao nàng làm vậy? Rắn bầy cho tôi!

14Rắn kia ăn đất suốt đời,

Phải bò trệt bụng, chịu lời đắng cay.

15Mối thù thâm nhục từ đây,

Giữa mi người nữ kéo dài bất di.

Chính nàng đập nát đầu mi,

Còn mi giãy giụa, miệng thì cạp chơn.

16Nàng kia, đau đớn càng hơn,

Mỗi khi thai sản, phục luôn quyền chồng.

17Sau thì tuyên án A-dong,

Bởi vì nghe vợ bất trung lịnh trời.

18Đất sinh gai góc khắp nơi,

Cơ hàn bịnh não suốt đời cực thân.

19Đổ mồ hôi mới có ăn,

Và khi chết đoạn, xác hoàn bụi tro.

20A-dong nay đặt tên cho,

E-và, có nghĩa căn do loài người.

21Trời làm da thú một đôi,

Cho hai người mặc, 22mở lời phân minh:

A-dong rầy đạt thần linh,

Sợ người hái trái trường sinh, sống hoài.

23Lịnh trời truyền đuổi cả hai,

Ra miền hoang dã bừa cày kiếm ăn,

24Kê-ru-bim, vị thiên thần,

Tay cầm gươm lửa chặn đàng vãng lai.

Cửa vườn đóng chặt từ đây,

Cây trường sinh chẳng còn ai đến gần.

Bài viết này không nhằm bàn về thi tài của Lữ Y Đoan. Sau đây bài viết xin chỉ bàn về hai chữ “song tường” mà Lữ Y Đoan đã dùng trong thơ, để mong nhận ra được ý tại ngôn ngoại trong đoạn thơ. Điểm đáng tiếc là đến nay chưa ai biết tông tích bản tiếng Nôm tập Tạo đoan kinh, nên không rõ chữ song tường đây viết ra sao để khỏi hiểu sai tác giả. Tuy nhiên, trong các từ điển tiếng Việt, chữ “song” có thể hiểu theo mạch thơ là một cặp, một đôi. Tự điển Việt Nam do hộ Khai Trí Tiến Đức dẫn hai câu Kiều để làm thí dụ:

Đinh ninh hai miệng một lời song song.

và

Truy nguyên chẳng kẻo lụy vào song thân.

Chữ “tường” cũng hiểu theo mạch thơ là biết, Tự điển Việt Nam của hội Khai Trí Tiến Đức dẫn thành ngữ “Chưa tường thực hư” làm thí dụ. Vậy xét theo mạch văn, và trong ngôn ngữ thông dụng, chữ cây song tường có nghĩa là cây hiểu biết hai bề đối nghịch, hợp với ý trong Kinh thánh là cây nhận thức thiện ác hay nhận thức tốt xấu.

Như vậy, phải chăng chữ song tường là chữ của Lữ Y Đoan dùng để thu gọn ý chính đoạn Kinh thánh trích dẫn trên đây, đồng thời giúp người đọc thơ nối ý đoạn Kinh thánh với ý nghĩa về cái biết tương đối trong kinh sách Tam giáo? Trả lời câu hỏi này, người đọc thơ mở Chương II sách Đạo đức kinh của Lão Tử, thấy câu:

[…]

Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ,

giai tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ;

Cố hữu tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương giảo, Cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hòa, tiền hậu tương tùy

 

nghĩa là:

Thiên hạ đều biết đẹp là đẹp, thì đã có xấu rồi, đều biết lành là lành, thì đã có cái chẳng lành rồi. Cho nên có không cùng sinh ra nhau, khó dễ cùng thành, ngắn dài cùng sánh giọng tiếng cùng họa, trước sau cùng theo […]

Lão Tử sinh vào thời nào là một điều chưa có ai có bằng cớ chính xác. Phần đông tin rằng Lão Tử đồng thời với Khổng Tử và lớn hơn Khổng tử vài chục tuổi. Khổng Tử sống vào khoảng 570 và 490 trước kỷ nguyên; như vậy trước Chúa Ky Tô khoảng ngoài 500 năm. Sách Đạo đức kinh của Lão Tử gồm năm ngàn chữ chia ra làm 81 chương. Đó là cuốn sách người ngày nay phiên dịch và phát hành, theo số lượng, đứng hàng thứ nhì sau cuốn Kinh thánh. Có hàng ngàn người từ xưa tới nay, từ Á sang Âu, nghiên cứu Đạo đức kinh.

Trở lại đoạn trích dẫn trên đây, người đọc Đạo đức kinh thấy rõ là, nhìn bằng nhận thức nhị nguyên, mọi sự việc thẩy đều tương đối, nghĩa là cái gì cũng có phần đối nghịch: tốt có xấu, thiện có ác, đúng có sai, ngắn có dài, cao có thấp. Cặp tương đối ấy thực sự luôn luôn nằm sẵn trong mọi sự vật.

Lão Tử đề ra lập trường chống nhận thức nhị nguyên, vì nhận thức nhị nguyên không sao đạt tới lẽ Tuyệt Đối, theo ông là nguyên lý cùng tột của vũ trụ, vạn vật, tức là Đạo. Cho nên muốn sống yên vui, về với đạo, con người phải giải kỳ phân, tức bỏ nhãn quan nhị nguyên, thì mới thấy được sự huyền đồng, tức về tới được với Đạo.

 

Bậc thánh nhân, sở dĩ đạt đạo là bởi biết mình mắc bệnh nhị nguyên, như câu:

Phù duy bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh

trong Chương 71 sách Đạo đức kinh. Phân biệt, biện biệt là làm loạn tâm trí. Dứt bỏ nhận thức nhị nguyên, chẳng còn phân biệt tha ngã, mới nhìn thấy Một, mới về với được tới Đạo.

Theo luận lý học thì một khái niệm là một cố định. Trong thực tế, thẩy đều biến hóa không ngừng, mỗi khái niệm đều có mầm của khái niệm tương phản. Nhìn sự việc theo khái niệm đình chỉ của luận lý học là nhìn sự vật từ cái Ta. Từ đó sinh ra bản ngã, chỉ nhìn thấy mọi vật không di dịch quanh cái Ta, không còn thấy sự chuyển lưu biến hóa. Như vậy là xa dời Đạo, là không còn nhìn thấy cái đại dụng của cái vô dụng như Trang Tử đã bàn trong chương Tiêu giao du sách Nam Hoa kinh.

Phải chăng gọi cây nhận thức thiện ác là cây song tường, Lữ Y Đoan có ý nêu lên sự tương đồng giữa việc Chúa Trời cấm con người ăn cây nhận thức tốt xấu và lập trường khuyến cáo con người dứt bỏ cái nhìn nhị nguyên trong sách Đạo đức kinh?

Lập trường của Lão Tử về tri thức tương đối cũng rất gần với lời Phật Thích Ca dậy về hai chữ vô minh.

 

Người học Phật ai cũng biết vô minh là mắt đầu tiên trong chuỗi xích 12 nhân duyên thường gọi là mười hai mắt xích của lý duyên khởi:

1-Vô minh; 2-hành; 3-thức; 4-danh sắc; 5-lục nhập; 6-xúc; 7-thọ; 8-ái; 9-thủ; 10-hữu; 11-sanh; 12-lão tử.

Vô minh là nhân của Hành; Hành là nhân của Thức; Thức là nhân của Danh Sắc; Danh Sắc là nhân của Lục Nhập; Lục Nhập là nhân của Xúc; Xúc là nhân của Thọ; Thọ là nhân của Ái; Ái là nhân của Thủ; Thủ là nhân của Hữu; Hữu là nhân của Sanh; Sanh là nhân của Lão Tử. Thế nên dứt được Vô Minh thì mười một mắt xích kia đều đứt.

Trong ý nghĩa thâm yếu trong đời sống tâm linh của con người, vô minh không phải là thiếu cái sáng về kiến thức, mà là cái tối tăm trong tri giác nội tại. Trong vô minh, cái biết tách rời sự biết, người biết tách rời cái được biết; trong vô minh ngoại giới biệt lập với nội tâm; nghĩa là luôn luôn có những cặp mâu thuẫn đối lập nhau. Đó là cốt cách của nhận thức, nên hễ có biết là có vô minh. Khi biết một điều thì vẫn có một điều khác mà ta không biết. Cái không biết luôn luôn đi liền cái biết, thế nên cuộc sống hóa thành biển khổ. Vô minh tự nó không có tội lỗi, nhưng nếu không hàng phục được vô minh thì trong cuộc sống mọi tội lỗi sẽ nối tiếp nhau, chằng chịt vô cùng tận.

Vô minh luôn luôn giả thiết có điều gì chưa biết bên ngoài, cái đó thường gọi là tự ngã. Đánh bạt hết vô minh là giác ngộ là dẹp được ngã chấp buông bỏ được nhận thức tương đối, thấy bằng cái thấy chân như.

Không có phương tiện nào chiến thắng được vô minh ngoài nỗ lực của ý chí. Chiến thắng vô minh giải trừ chấp ngã, tức cái ta do vô minh tạo ra. Cái ta đó là một góc tối không một tia sáng nào lọt vào tới. Phá vỡ vô minh là trút bỏ được chấp ngã xen vào cuộc sống, là nhận thức thế gian đúng như thực, như làn nước trong tĩnh lặng thấy nhạn chiếu nhạn, thấy trăng chiếu trăng. Có buông bỏ được chấp trước, nội thể mới gạn lọc, mới biết được chân như, mới không còn thấy một cái Ta đối lập với cái không là Ta. Cái bị hủy diệt là cái thế đối chọi của sự vật, chớ không phải là tự thể của sự vật. Như vậy là có cái nhìn của cặp mắt đạo, là thấy cái một trong cái nhiều, là thấy rằng hai điều đối nghịch nhau không phải là tương sanh tương thuộc nhau, mà chính cả hai đều bình đẳng như nhau, ứng hóa từ một lẽ duy nhất.

Tâm đạt đến mức này mới thấy khẳng định và phủ định đều không có chốn dựa trong thực tại, vì cái thực là cái biết sự vật đúng như thực. Tâm trở thành tấm gương của trí năng. Không phải là trí bạt trừ nổi vô minh, dẫu là trí được Phật pháp soi sáng, mà chính là tâm bạt trừ vô minh.

Lục Tổ Huệ Năng nói:

Chỉ cần nơi tự tâm khởi lên cái thấy chân như là không còn phiền não trần lao nào nhiễm được vào người. Đó là thấy tánh.

Đừng trụ bất kỳ nơi đâu […] thì lui tới được tư do. Đừng để tâm chấp trước thì thông suốt, thì không còn gì vướng mắc.

 

Khi chưa ngộ Phật là chúng sinh như ta; phút chốc ngộ thì chúng sinh ta tức là Phật. Tất cả đều do ở tâm ta.

Chữ thấy tánh của Huệ năng chẳng phải là cái nhiều, mà chính là cái một tuyệt đối, thuần nhất và bình đẳng như nhau, đó chính là tự tánh ở từng mỗi một con người. Tự tánh bao hàm toàn thể vũ trụ không bao giờ ngưng ứng dụng trong thế gian. Tự tánh vốn tự do tự tại, đầy sinh lực sáng tạo, mà đồng thời cũng tự tri tự giác. Tự tánh tự biết Tất cả là một, một là tất cả.

Cái biết này phải chăng chắc chắn là khác cái nhận thức thiện ác mà Adam và Eve bỗng có sau khi ăn trái cấm?

Tấm kính thứ ba trong đài kính viên dung giúp người đọc Lữ Y Đoan thấy được ý ngoài lời là Khổng học.

Chữ kiến tính cũng là suất tính

để nói lên nét tương đồng giữa Phật giáo và Khổng giáo. Chữ kiến tính trong câu quen thuộc của người học Phật: Cụ Thượng Ngàn Hống Nguyễn Công Trứ viết trong bài hát nói Vịnh Phật:

Kiến tính thành Phật

Chữ suất tính lấy từ sách Trung dung, trong câu:

Thiên mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo.

nghĩa là Trời phú cho thì gọi là tính, thuận theo tính gọi là đạo. Đạo của vạn biểu thế sư, theo chính người nói, chép trong sách Luận ngữ, Lý nhân, chương IV:

Ngô đạo nhất dĩ quán chi,

nghĩa là từ đầu chí cuối chỉ là một. Đạo nhất quán ấy thuận mệnh trời, do chữ nhân mà ra. Bởi từ chữ nhân ra, nên Khổng Tử theo lẽ thiên lý lưu hành, nên cái học của Khổng giáo có bốn điều không, trong gió có điều không cố chấp, ghi trong sách Luận ngữ, Tử Hãn, chương IV:

XVIII:

Tử tuyệt tứ: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã.

Khổng tử thâu tóm đạo ngài trong năm chữ, sách Luận ngữ, Vi Tử

vô khả vô bất khả

nghĩa là Khổng Tử cương cũng được, nhu cũng được, có lúc kinh có lúc quyền, cốt triết trung hợp lý chứ không chấp trước. Trần Trọng Kim bàn thêm là chấp trước thì chỉ biết một điều mà bỏ mất trăm điều.

Đọc ngược câu thơ của Nguyễn Công Trứ: chữ suất tính cũng là kiến tính, phải chăng thực hiện được đường lối vô khả vô bất khả, không chấp trước, để suất tính, tất không khỏi không buông bỏ nhận thức thiện ác như để kiến tính?

Đó là vài ý ngoài lời người đọc thơ Lữ Y Đoan nhìn thấy qua hai chữ song tường.

Đọc Tạo đoan kinh không thể không nói tới đóng góp của Lữ Y Đoan vào ngôn ngữ Việt Nam. Nội dung Tạo đoan kinh đề cập tới những vấn đề siêu hình như ta thấy trên dây. Bàn về những câu chuyện này thường gặp khó khăn trên mặt ngôn ngữ.

Cái khó khăn đó có từ thượng cổ tới hiện tại, mỗi khi con người muốn đề cập tới những truyện siêu hình.

Cái khó khăn đó là cái khó khăn của người chép Kinh thánh. Sách Xuất hành, chương 3, câu 14, chép trong bản Good News Bible, American Society, 1976 chép:

God said: I am who I am.

Cũng câu đó, Kinh thánh tiếng Pháp mang Imprimatur tháng 12 năm 1988 của Conférence des Evêques Catholiques du Canada, chép:

Dieu dit à Moise: Je suis qui je suis.

Kinh thánh tiếng Trung Hoa, Tòa Tổng giám mục Hương Cảng chuẩn ấn năm 1968 chép:

Thiên Chúa hướng Mai Sắt thuyết: Ngã tự thị tự hữu giả.

Nghĩa là: Thiên Chúa hướng về ông Mai-sen phán: “Ta là “Ta là” Kinh thánh trọn bộ, xuất bản tại thành phố Hồ Chí Minh 1998 chép: Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: “Ta là Đấng “Ta là”

Đọc câu Kinh thánh chữ Anh, chữ Pháp hay chữ Trung Quốc, người đọc hiểu là Thiên Chúa là Đấng tự hữu tự tạo. Ý đó không thấy trong bản Kinh thánh in tại thành phố Hồ Chí Minh.

Câu Kinh thánh này gợi hứng cho Lữ Y Đoan viết thành câu: Tự Hằng Tự Hữu danh Trời,

Chữ Tự Hằng Tự Hữu này gần gậm với câu Kinh thánh nói trên trong cả ba bản tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Trung hoa. Điều đáng ghi nhận là tập Sấm truyền ca hoàn thành vào năm 1670. Thủa đó, ngoại trừ bản Kinh thánh bằng tiếng La tinh, không chắc đã có những bản Kinh thánh tiếng Trung Hoa, tiếng Pháp hay tiếng Anh lưu hành tại cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài.

Lời Kinh thánh Ta là Đấng Tự Hữu, cho thấy là Thượng Đế, trong đoạn văn trên không có tên, đúng hơn có lẽ là không có tên nào gọi đúng nổi. Đó là cái khó của ngôn ngữ trong các câu chuyện siêu hình.

Cái khó đó cũng là cái khó mà Lão Tử đã gặp, như ghi trong hai câu mở đầu Đạo đức kinh:

Đạo khả đạo phi thường đạo Danh khả danh phi thường danh.

Nghiêm Toản dịch là: Đạo có thể nói được không phải là đạo thường Tên có thể gọi được không phải là tên thường.

Không có lời nào tượng trưng nổi đạo, không có tên nào tiêu biểu nổi cho Đạo, gọi là Đạo là một điều gượng ép, như Lão Tử viết trong chương XXV.

Giới hạn ngôn ngữ này còn thấy trong thơ Đào Tiềm (365-426) trong bài dưới đây:

Ẩm Tửu Đệ Ngũ Thủ

Kết lư tại nhân cảnh

Nhi vô xa mã huyên

Vấn quân hà năng nhĩ

Tâm viễn địa tự khuynh

Thải cúc đông lý hạ

Du nhiên kiến Nam Sơn

Sơn khí nhật tịch giai

Phi điểu tương dữ hoàn

Thử trung hữu chân ý

Dục biện dĩ vong ngôn.

 

Dịch là:                   Nhắp Rượu.Bài số năm

Dựng lều giữa chốn chợ đời

Ngựa xe nhộn nhịp đón mời ngoài tai

Hỏi sao được tới như vầy

Rằng lòng riêng gửi cõi ngoài rảnh rang

Chân rào đông hái cúc vàng

Núi Nam tầm mắt cắt ngang trùng trùng

Chiều trong vách đá giăng sương

Chim về mỏi cánh ngập ngừng nẻo xa

Cảnh \này chân ý nẩy ra

Giãi bầy muốn nói mà ta quên lời.

 

Bài thơ là một chuỗi hình ảnh tĩnh lặng tạo nên cảnh an lạc của tác giả trước cảnh già trước hình ảnh của cái chết đè nặng ngang chân trời. Hai câu kết cho thấy tác giả muốn nói tới chân ý nẩy ra trong lòng mà bỗng quên hết lời. Giới Hán học thường giải thích hai câu đó qua lời Trang Tử trong Nam Hoa kinh:

Có nơm là vì cá

Đặng cá hãy quên nơm

Có dò là vì thỏ

Đặng thỏ hãy quên dò

Có lời là vì ý

Đặng ý hãy quên lời.

để cho thấy cảnh huyền đồng, hay về cùng Đạo của Đào Tiềm.

Để cho thấy cảnh huyền đồng, hay về cùng Đạo của Đào Tiềm, trong thơ Việt âm của nguyễn Trãi có bài sau đây:

Du Sơn Tự

Đoản trạo hệ tà dương

Thông thông yết thượng phương

Vân quy thiền sáp lãnh

Hoa lạc giản lưu hương

Nhật mộ viên thanh cấp

Không sơn trúc ảnh trường

Cá trung chân hữu ý

Dục ngữ hốt hoàn vương

 

Dịch là:   Chơi chùa núi

Vội vàng gác mái chèo hoa

Lên chùa lạy Phật ánh tà xiên xiên

Mây về lành lạnh giường thiền

Hoa rơi suối chảy hương triền miên trôi

Trời chiều tiếng vượn bồi hồi

Đổ dài bóng trúc quét đồi hoang xa

Lòng riêng ý vụt sáng lòa

Kiếm lời những tưởng kiếm ra quên liền.

Khác với chuỗi hình ảnh tĩnh trong thơ Đào Tiềm, chuỗi hình ảnh trong thơ Nguyễn Trãi gồm toàn hình ảnh động. Hai câu cuối của Nguyễn Trãi gần giống hệt hai câu kết của Đào Tiềm. Người đọc thơ thấy như nếu Đào Tiềm huyền đồng thì Nguyễn Trãi đốn ngộ qua lời thơ. Điểm chung trong những câu kết trong hai bài thơ là cả hai người thơ cùng gặp giới hạn của ngôn ngữ: có ý mà không lời diễn đạt.

Trong dòng thơ Thiền tại Nhật Bản, giới hạn ngôn ngữ cũng thấy rõ trong bài thơ của thiền sư Lương Khoan, Ryokan (1758-1831), hệt như trong thơ Đào Tiềm và Nguyễn Trãi:

Hàn dạ chay không lý

Hương yên thì dĩ thiên

Hộ ngoại trúc bách can

Sàng thượng thư sổ thiên

Nguyệt xuất bán song bạch

Trùng ô tứ lân thiền

Cá trung hà hạn ý

Tương đối dã vong ngôn.

Dịch là:

Phòng chay lành lạnh chiều rơi

Khói hương ngào ngạt lặng trôi tháng ngày

 Cửa ngoài ngàn gốc măng dài

Đầu giường kệ sách chất đầy bấy lâu

Nửa song vằng vặc trăng cao

Bốn bề tĩnh mịch nghẹn ngào dế than

Lòng trong thi hứng chứa chan

Cảnh ngoài tương đối miên man không lời.

Trong thơ Nguyễn Trãi buộc thuyền lên chùa lạy Phật. Từ chỗ gác chèo lên tới chùa, ngồi trên giường thiền Nguyễn Trãi nhìn mây bay, cảm thấy giá lạnh, nhìn thấy suối đưa hương hoa rụng, nghe thấy tiếng vượn, nhìn thấy bóng trúc ngoài đồi rồi thấy ý vụt nổi trong tâm không lời diễn tả. Trong thơ, Lương Khoan ngồi trong phòng chay, trước làn khói hương ngào ngạt, nhìn ra cửa ngoài thấy trăm gốc măng, qua cửa sổ thấy trăng vằng vặc, rồi lại nhìn lên kệ sách đầu giường, nghe tiếng trùng kêu bốn phía, để thấy trong tâm dào dạt ý nghĩ trước cảnh tương đối không lời diễn tả. Cái khéo của Lương Khoan là diễn tả cảnh tương đối qua cái nhìn của người thơ đảo mắt quanh phòng chay rồi ngó ra ngoài trời, rồi mắt lại quay về trong phòng chay, nhưng tiếng trùng bốn phía theo người thơ vào trong phòng chay, khiến ông nghe ý dào dạt trong tâm mà cũng không lời diễn tả.

Gặp giới hạn ngôn ngữ cũng là cảnh nhà thơ Pháp Stéphane Mallarmé (1842-1898). Trong bức thư gửi H. Cazalis, tháng 3 năm 1866, Stéphane Mallarmé viết:

Malheureusement, en creusant le vers à ce point, jai rencontré deux abimes qui me désespèrent. L’un est le néant, auquel je suis ar- rivé sans connaitre le Bouddhisme, et je suis encore trop désolé pour pouvoir croire même à ma poésie et me remettre au travail, que cette pensée et ce point, j’ai rencontré.

Và trong thư ngày 14 tháng 5 năm 1867, Stéphane Mallarmé viết tiếp cho H Cazalis:J’ai fait une assez longue descente au Néant.

Lời thư của Stéphane Mallarmé cho thấy là người thơ thế kỷ XIX tại Âu Châu cũng gặp những cảnh thiếu lời, trước những cảnh thăng hóa, như ba nhà thơ Đông Á, trước những đề tài thăng hóa siêu hình, sinh trước cả ngàn năm.

Chắc chắn là Lữ Y Đoan không khỏi không gặp những cảnh khó khăn thiếu lời trong việc sáng tác Tạo đoan kinh, khởi hứng từ Kinh thánh. Giải quyết nỗi khó khăn này, Lữ Y Đoan dường như đã ứng dụng những kinh nghiệm của những nhà dịch thuật kinh bổn: tạo ra những chữ mới.

Một thí dụ quen thuộc trong việc tạo chữ mới của người Công giáo là chữ linh mục mà người Trung Quốc dùng chữ thần phụ. Tiếng Việt không thiếu gì chữ chỉ người đàn bà, người dịch kinh Kính Mừng đã tạo ra chữ người nữ, mặc dầu chữ Nho vốn có sẵn chữ nữ nhân. Chữ Kính Mừng dường như cũng là một chữ do người Công giáo đặt thêm. Ba chữ Kính Mừng Maria dịch chữ Ave Maria, có nghĩa là lời chào Maria. Nhưng dường như là một chữ kép rút từ câu: thờ cha kính mẹ, và trong câu: mừng như thấy mẹ về chợ để diễn tả lời chào Đức Mẹ Maria mang âm hưởng Việt Nam và mang hình ảnh người mẹ Việt Nam.

Trở lại Tạo đoan kinh, trong phạm vi bài viết này, thí dụ chữ mới mà Lữ Y Đoan đóng góp vào tiếng nói Việt Nam có thể lấy chữ cây song tường làm tiêu biểu. Chữ này mang âm hưởng Việt Nam chẳng khác gì như chữ mẫu đơn, trúc đào v.v… Có điểm đáng chú ý là chữ song tường gần gậm với tên cây có sẵn trong tiếng Việt. Đó là cây song thụ. Cây song thụ quen thuộc với người học Phật. Kinh Trường A Hàm, Quyển 4 chép lời Phật, trong đêm Phật vào Niết Bàn:

Này A-nan! Ta nhớ đã từng sáu lần ta làm chuyển luân thánh vương, […] nay ta thành ngôi chánh giác, […], từ nay về sau ta dứt tuyệt sinh tử […] Đây là kiếp cuối cùng, ta không còn thụ sinhtrở lại nữa. Này A-nan! ông hãy vào thành Câu-Thi Na-Kiệt, báo tin cho dân chúng dòng Mạc-la rằng:

Như Lai định đêm nay sẽ vào Niết Bàn tại giữa hai cây song thụ trong rừng sa-la.

Sa-la song thụ là một loại cây có hai thân. Truyền thuyết kể rằng khi Phật gần vào Niết bàn thì có ông A-nan mắc võng giữa hai thân cây song thụ cho Phật nghỉ. Lữ Y Đoan còn đóng góp vào ngôn ngữ Việt Nam trong việc dịch những tên đất tên người. Thí dụ như việc dịch tên tháp Babel. Sách Sáng thế đoạn 11 chép truyện Tháp Ba-ben như sau:

1Thuở ấy, mọi người đều nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau. 2Trong khi di chuyển ở phía đông, họ tìm thấy một đồng bằng ỏ đất Sin-a và định cư tại đó. 3Họ bảo nhau: Nào! Ta đúc gạch, và lấy lửa mà nung!. Họ dùng gạch thay vì đá và lấy nhựa đen làm hồ. 4Họ nói: Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất. 5Đức Chúa xuống xem thành và tháp con cái loài người đang xây. 6Đức Chúa phán: Đây, tất cả chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng. Chúng mới khởi công mà đã như thế thì từ nay chẳng có gì chúng định làm mà không làm được. 7Nào! Ta xuống và làm cho tiếng nói của chúng xáo trộn, khiến chúng không ai hiểu ai nữa. 8Thế là Đức Chúa phân tán họ từ chỗ đó ra khắp nơi trên mặt đất, và họ phải thôi không xây thành phố nữa. 9Bởi vậy, người ta đặt tên cho thành ấy là thành Ba-ben, vì tại đó, Đức Chúa đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất, và cũng từ chỗ đó Đức Chúa đã phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất.

Chữ Ba-ben trên đây phiên âm chữ Babel trong bản Kinh thánh chữ Pháp. Trong Kinh thánh chữ Anh tháp này gọi là tháp Babylon. Kinh thánh tiếng Trung Quốc dịch là phiên âm theo tự điển Phiên Việt Pháp Hán Yếu tự Án Bộ Vi của Tây Dương là Pà péi eul. Chữ này đọc theo âm Do Thái có nghĩa là xáo trộn và đa tạp.

Ba chữ Tháp Ba-ben, từ truyện Chúa Trời xáo trộn ngôn ngữ loài người, thường dùng để chỉ cảnh ngôn ngữ bất đồng. Việc dịch tên tháp sang một tiếng khác đồng thời giữ được nghĩa lộn xộn là một thách đố trong giới dịch thuật. Như thấy trên đây, trong bốn bản Kinh thánh không bản nào vừa phiên âm được tên tháp, do Chúa Trời đặt ra, vừa giữ được nghĩa hỗn độn gợi lên trong tai người Do Thái. Đó là một thí dụ điển hình về nỗi khó khăn trong việc dịch thuật. Jacques Derrida trong cuộc họp bàn tròn tại trường Đại Học Montréal, từ 22 tới 24 tháng 10 năm 1979, có nhắc tới bản dịch Kinh thánh, vụ vào văn tính, hơn là chính xác về văn ý, của Chouraqui. Dịch giả này đã dịch tên tháp Babel thành hai chữ Bavel, Confusion. Chữ Bavel dễ dịch âm và chữ Confu- sion cốt nhắc lại trong tai người Pháp ý nghĩa hỗn độn nghe thấy trong tai người Do Thái, đồng thời chữ C hoa để chỉ tên tháp.

Lữ Y Đoan dịch tên tháp này là tháp Bá Biện. Chữ Bá hay còn đọc là Bách nghĩa là một trăm. Chữ Bá quen biết trong tiếng Việt trong thành ngữ chữ Nho ghi trong Việt Nam tự điển, Hội Khai Trí Tiến Đức: Bá nhân bá khẩu, nghĩa là trăm người trăm miệng. Chữ Biện theo Hán Việt tự điển của Đào Duy Anh là tranh cãi phải trái. Hai chữ Bá Biện chuyển âm chữ Babel sang tiếng Việt, và chuyển cả ý hỗn độn của chữ này như trong Kinh thánh Do Thái. Thật vậy, chín người mười ý là cảnh tranh cãi chốn đình trung, nay trăm người trăm miệng cùng tranh cãi phải trái, hỏi còn có hình ảnh nào tiêu biểu cho ý hỗn độn rõ hơn.

Phải chăng, như vậy bốn bộ Kinh thánh tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc và cả Kinh thánh trọn bộ không bản nào thành công trong việc dịch tên tháp Ba Ben trọn vẹn cả lời cả ý như Lữ Y Đoan?

Phải chăng đó là đóng góp của Lữ Y Đoan vào ngôn ngữ Việt Nam qua tập thơ Tạo đoan kinh.

Sách Tạo đoan kinh của Lữ Y Đoan gồm 3606 câu, chắc còn nhiều ý tại ngôn ngoại khác đang chờ đợi đông đảo người đọc phát hiện, cũng như còn nhiều đóng góp khác của tác giả vào ngôn ngữ Việt. Phải chăng cần có nhiều người thực hiện những việc đó mới bõ công người dân xứ Đàng Trong ngoài ba trăm năm qua, bất chấp luật vua cấm đạo, bất chấp sự không chấp thuận của giáo quyền địa phận, giữ truyền thống bảo vệ văn học truyền từ bao đời trước tỷ như trong vụ đốt sách cố tình hủy diệt văn học Việt Nam của quân nhà Minh, để tập Sấm truyền ca này còn tới tay người nay?

Trên bình diện nội dung, tập thơ Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan còn giúp cho người Việt chúng ta ngày nay thêm phương tiện để tham dự cuộc đối thoại giữa các tôn giáo, một vấn đề hệ trọng trong triết đạo cũng như trong cuộc sống hàng ngày trong thiên tuế thứ ba này. Triết gia J.J. Clarke đề cập đến vấn đề này trong tác phẩm Oriental Enlightenment, tóm tắt sơ lược như sau.

Cuộc đối thoại giữa các tôn giáo khởi đầu từ những năm đầu thế kỷ XX, nhưng thực sự thành một vấn đề hệ trọng của những nhà lãnh đạo tôn giáo từ sau thế chiến thứ hai. Về phía Giáo hội Tin Lành, tổ chức World Council of Churches được thành lập từ năm 1948, với chủ trương liên kết và đổi mới các giáo phái thờ Chúa Kitô. Đại Hội Đồng năm 1968 mở rộng chủ trương trên bằng cách mở ra cuộc đối thoại với các tôn giáo không thờ Chúa Kitô. Trong năm 1970, một cuộc gặp gỡ giữa các tôn giáo được tổ chức tại Beirut, và một năm sau tiểu ban mang tên Dialogue with Men of Living Faiths and Ideologies được thành lập và một cuộc bàn cãi về mối tương quan giữa đạo Chúa Kitô với các tôn giáo khác còn tiếp diễn tới nay.

Gần như song song với diễn tiến trên, Giáo hội Công giáo La Mã cũng thay đổi thái độ với các tôn giáo khác. Suốt từ Công dồng Florence (1438-1445) Giáo hội La Mã giữ vững nguyên lý không có sự cứu rỗi ngoài Giáo hội. Nhưng Công Đồng Vatican II (1962-1965) nguyên lý trên đổi mới thành Chúa muốn cứu rỗi loài người. Công Đồng tuyên cáo rằng Chúa tự hiện theo nhiều cách, và các tôn giáo khác thường thường phản ánh một tia sáng, tia sáng này soi sáng cho tất cả nhân loại. Giáo điều này cho phép và khuyến cáo người dân Chúa mở cuộc đối thoại với những tôn giáo khác.

Nhìn vào cuộc đối thoại này, các nhà triết đạo phân ra là ba trường phái. Trước hết là trường phái bài ngoại, exclusivism. Trường phái này giữ vững nguyên lý Công Đồng Florence: Chỉ có sự cứu rỗi trong Giáo hội Công giáo La Mã mà thôi. Trường phái thứ hai là trường phái bao hoạt, trường phái này xác nhận là có sự hiện hữu cứu rỗi trong mọi tôn giáo không thờ Chúa Kitô, nhưng vẫn chủ trương là Chúa Kitô mới thực sự là hiện hữu cứu rỗi. Sau hết là phái đa tôn, pluralism. Trường phái này giữ thái độ trung lập giữa các tôn giáo, và chủ trương rằng Công giáo không độc quyền cũng như không có ưu thế hơn các tôn giáo khác.

Trong trường phái bài ngoại có hai khuôn mặt tiêu biểu. Một là Karl Barth (1886-1969) với chủ trương cực đoan bác bỏ mọi đối thoại giữa các tôn giáo. Hai là Henrdrik Kraemer (1888-1965) một mặt giữ lập trường thần học bảo thủ, một mặt coi cuộc đối thoại giữa Đông và Tây là một điều cần thiết. Trong trường phái bao hoạt có R. C. Zaeh- ner, một học giả chuyên về Đông Phương người Công giáo. Ban đầu ông chủ trương chống lại quan điểm có sự tương quan về giáo lý giữa các tôn giáo lớn. Nhưng sau Công Đồng Vatican II, ông có một chủ trương ôn hòa hơn và cho rằng Ấn Độ giáo cũng có nhiều quan điểm giúp người Công giáo hiểu rõ đạo mình hơn. Nhà thần học Công giáo William Johnston đặt câu hỏi sau: phải chăng người không Công giáo nhìn thấy những mầu nét sự thực mà người Công giáo chúng ta không nhìn thấy? và kết luận: nếu chúng ta muốn tăng trưởng trong sự thực chúng ta phải nghe người khác. Khuôn mặt thứ ba là Karl Rahner (1904-1984) một nhà thần học Công giáo có ảnh hưởng lớn trong Công Đồng Vatican II, đi xa hơn Kraemer và Zaehner trong cuộc đối thoại với các tôn giáo khác với chủ trương Chúa cứu rỗi ở khắp mọi nơi. Lập trường của phái bao hoạt mở ra nhiều vấn đề thần học gai góc, tỷ như sự công nhận các tôn giáo mở ra câu hỏi về tính duy nhất của Giáo hội Công giáo.

Trường phái đa tôn, pluralism, chủ trương không có một tôn giáo nào đứng trên một tôn giáo khác. Chủ trương này càng ngày càng có thêm những nhà triết đạo, cũng như những nhà lãnh đạo tôn giáo nổi tiếng tham dự. Vấn đề khó khăn này hiện chưa và dường như không bao giờ giải quyết thỏa đáng nổi.

Nhưng đà tiến triển trong trào lưu hoàn vũ đòi hỏi một giải pháp cấp thời để duy trì an ninh cho con người. Diện mạo con người tại các đô thị lớn Luân Đôn, Ba Lê, Bá Linh ở Âu Châu, Nữu Ước, Los Ange- les ở Hoa Kỳ cũng như Montréal, Toronto và nhất là Vancouver ở Gia Nã Đại hoàn toàn thay đổi trong đà di dân mấy chục năm gần đây. Tại các đô thị đó ngoài số lượng nhà thờ Công giáo thường giảm sút, trái lại có thêm nhiều ngôi đền thờ các đạo khác như Ấn Độ giáo, Hồi giáo cũng như các chùa Phật giáo mới được xây cất thêm. Nhiều người bi quan lo sợ có cảnh xô xát đổ máu như ở vùng Cận Đông có thể xẩy ra tại các đô thị này. Do đó vấn đề đối thoại giữa các tôn giáo thành một vấn đề quan trọng trong tay các nhà triết đạo, và đòi hỏi một giải pháp thực tế. Trở lại tập thơ Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan, không ai không nhận thấy sự hòa hợp giữa những tư tưởng Đông và Tây trong tâm tư tác giả. Tập Sấm truyền ca còn truyền tới ngày nay phải chăng là Lữ Y Đoan đã thành công trong việc truyền cảm sự hòa hợp đó tới đông đảo người đọc, vốn trọng tinh thần Tam Giáo đồng tôn?

Cảnh sống thực của Lữ Y Đoan 350 năm trước đây, khi đạo Chúa Kitô tới Việt Nam, nơi mà cuộc sống của người Việt Nam đã có cả ngàn năm nền nếp Tam Giáo, phải chăng là hình ảnh đối xứng của hoàn cảnh trước mắt các nhà triết đạo ngày nay trước sự lan tràn của một số tôn giáo Đông Phương vào Âu Châu?

Tác phẩm của Lữ Y Đoan để lại cho chúng ta giúp gì cho chúng ta ngày nay trong cuộc chung sống giữa các tôn giáo, trong trào lưu hoàn vũ hiện nay, phải chăng là điều đáng để suy ngẫm?

Sách Tham Khảo

Lữ Y Đoan, Sấm Truyền Ca. Quyển I: Tạo Đoan Kinh, Tập San Y Sĩ, Montréal, Quebec Canada, 2000

Kinh thánh Trọn Bộ Cựu ước và Tân ước, Tòa Tổng Giám Mục Thành Phố Hồ Chí Minh 1998. Nghiêm Toản Lão Tử Đạo Đức Kinh, Nhà Sách Khai Trí, Sài Gòn 1973 Nhượng Tống, Trang Tử Nam Hoa Kinh, Nhà xuất bản Tân Việt, Hà Nội 1944 Nguyễn Duy Cần Lão Tử Tinh Hoa, Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn 1964 1971

Trần Trọng Kim, Nho Giáo quyển thượng, Trung Tâm Học Liệu, Sài Gòn.

Suzuky Thiền Luận quyển Thượng Trung Hạ, bản dịch của Trúc Thiên và Tuệ Sĩ, Chùa Khánh Anh tái bản tại Paris, Pháp Quốc.Kinh Trường A Hàm, Dịch giả Thích Thiện Siêu, Phật Học Quốc Tế Xuất Bản, Sepulveda, California, USA, 1986. James Leggs, The Original Chinese Texts of the Confucian Analects, The Great Learning, The Doctrine of Mensius & The Work of Lao-Tsze, East Asia Book Agency, Hong Kong, 1977.

The Diamond Sutra & The Sutra of Hui Neng, Translated by A.F. Price & Wong Mou-lam, Shambhala Dragon Edition, Boston 1990.

 

Nguồn: Tạp chí Truyền Thông, Canada, tháng 12-2012

* Lê Phụng
Tài liệu tọa đàm Sấm truyền ca (1670) của linh mục Lữ Y Đoan (1608-1678)