Đèn lòng

09/11/2025 269 lượt xem

Dưới thời Chúa Nguyễn cai trị, các tín hữu công giáo bị đàn áp, tra tấn cho đến khi buông lời chối đạo. Thời đó, thầy giảng An-rê cũng bị bắt và không sao tránh khỏi cái chết. Thầy giảng Anre khi ấy chỉ mới 19 tuổi đã kiên trung anh dũng tuyên xưng : “Lạy Chúa, con muốn giữ vững đức tin cho tới chết”[1]. Ngài bị kết án tử hình và bị xử chém ngày 26 tháng 7 năm 1644 tại Phú Yên. Ngày 5 tháng 3 năm 2000, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã tuyên phong ngài lên bậc Chân Phước tại Rô-ma. Ngài được tôn kính như một gương mẫu cho giới trẻ Công Giáo sống can đảm và trung thành với lý tưởng chứng nhân loan báo Tin Mừng Nước Trời.

….Hoang sơ,bí ẩn, xứ sở hoa vàng cỏ xanh: Phú Yên!

Cháu tôi kể Phú Yên như một khu vườn cổ tích, trong đó có gia đình ông bà ngoại nó, có các dì dượng và mấy đứa trẻ cùng gắn bó tuổi thơ đầy ắp niềm vui sum vầy dịp Tết đến Hè về. Anh Hai tôi trề môi, nói vài lời lấy lệ: “Đẹp đâu không thấy, anh thấy toàn mưa – giông – bão”. Dù có cảm nhận thế nào đi chăng nữa thì miền đất ấy vẫn giữ nét đẹp riêng bởi thiên nhiên cùng con người theo năm tháng chung tay xây dựng, giữ gìn. Rất nhiều câu chuyện gắn với thánh địa nơi có thánh tích của Chân Phước An-rê Phú Yên được truyền miệng, người được ơn, kẻ gặp phép lạ, chuyện mê tín cuồng đạo và cả câu chuyện về một bà góa sống đơn độc trong căn nhà cấp bốn gần nhà thờ Mằng Lăng chất chứa nhiều nỗi niềm lắm. Bà con lối xóm đều biết gia cảnh chị Hiên, thương chị, đã góa chồng còn mất luôn con trai chỉ trong vỏn vẹn một năm. Nói rằng đời người ngắn ngủi là đây chăng…

Giáo dân nại đến Cha xứ, ban đầu lân la kể chuyện chị Hiên, sau sốt ruột lại xu Cha ra mặt tới nhà khuyên nhủ, an ủi. Cha có quan điểm của cha giống như người có đức tin luôn lắng nghe và thực thi thánh ý Chúa, không phải vì sợ hãi nhưng vì yêu mà đến, vì cậy mà dấn thân. Đường lối của Chúa luôn độc lạ bởi Ngài có cách của Ngài, cái cách rất riêng mà thâm sâu huyền nhiệm. Không thấy mà tin đâu chỉ nói qua loa lấy lệ, phải là người có cảm thức đức tin sâu xa lắm mới xác tín rõ ràng điều đó. Đành rằng Lời Chúa dạy phải tin, ấy thế mà phận con người nhỏ bé ắt không tránh khỏi sự suy lý ngờ vực, nghi ngờ đường lối của Thiên Chúa. Niềm tin đòi hỏi phải tỉnh thức trong những chọn lựa, nhờ đức tin cho ta hy vọng vào sự quan phòng của Thiên Chúa – Đấng quyền năng biến cái không thể thành có thể, biến cái xấu thành điều tốt, biến đau khổ thành niềm vui.

Đến một ngày, giáo dân thấy Cha xứ trẻ ghé thăm quán nước của chị Hiên. Gọi là Cha xứ trẻ vì cha đến đây chỉ mới 37 tuổi, đối với thánh chức linh mục như vậy cũng tính là trẻ rồi. Cha xứ trẻ toan gọi ly cà phê, cái mục đích thì quá rõ rồi, cha muốn lắng nghe chính chị Hiên trải lòng về câu chuyện cuộc đời chị. Quán không tính là lớn, cà phê chị Hiên pha có vị đắng đặc trưng hội tụ các hương vị của cuộc sống đầy ý vị. Mà đã là người từng trải thì đều hiểu cuộc sống này vốn chẳng dễ dàng gì, chấp nhận hay chạy trốn chỉ trong một suy nghĩ. Sau gần năm phút quan sát, cha mở lời:

“Người ta có thật sự được ơn không? Họ xin gì cùng Chân phước Anre Phú Yên?”

“Cha nghĩ sao?” Chị Hiên đáp nhanh không thể gọn hơn được nữa.

Cha xứ giật mình trộm cười, thầm nghĩ: “Chị biết tôi là linh mục, chắc hẳn cũng biết tôi đến không để giải khát, sắp xếp bao nhiêu kịch bản nhằm đương đầu với tình huống xảy đến. Thôi vậy, tùy cơ ứng biến, cứ tưởng chị bất biến nhưng nay chị có biến mình lại ngây ra”.

Cha muốn nói gì đó nhưng Chị Hiên lần nữa thản nhiên lên tiếng: “Cha nghe được những gì?”

“Tôi nghe được gì không quan trọng, điều tôi thao thức lúc này là nghe được tâm tư của chị”.

“Cha đúng là rất thẳng thắn. Lời thật lòng hình như không mấy ai muốn nghe, và con cũng vậy”.

“Tôi lại nghĩ khác, chị biết tôi là cha xứ nhưng vẫn mở lòng nói chuyện với tôi, chứng tỏ chị đang cho tôi cơ hội, cái điều ngoại lệ ấy”. Cha nhấp ngụm trà, từ tốn nói.

Chị cúi đầu, tay nắm thành quyền rồi lại ngước lên nhìn cha: “Thưa cha, con trai con đã viết trong nhật ký rằng rất sẵn lòng đón nhận bệnh tật theo gương chân phước Anre Phú Yên, thằng bé muốn trở nên một chứng nhân của Giáo Hội, thằng bé còn quá nhỏ nó không hiểu chết là gì, nó không biết điều mình xin”.

Tôi tiếp tục nghe chị bộc bạch: “Tại sao người ta xin bình an, học giỏi, thành đạt, hạnh phúc, may mắn, còn thằng bé lại xin ơn được cùng chia sẻ đau đớn trong bệnh tật với thánh Anre Phú Yên và rất sẵn lòng khi được Chúa gọi về. Như vậy có tính là được ơn không thưa cha?” Chị khóc nấc lên, nghẹn ngào chị ho khèn khẹt, nước mắt kéo nỗi đau theo nhau rơi xuống, chị nói tiếp: “Chẳng lẽ Thiên Chúa quên chúng con rồi sao? Ngài ban nó cho con rồi lại lấy đi cách này cách khác, hễ ai đến với thầy Anre đều được ơn về trong tiếng cười. Con ở đây hơn nửa đời người, con chứng kiến biết bao nhiêu người được ơn ra về trong hạnh phúc nhưng chẳng thể ép lòng mình vui với người vui như Chúa đã dạy”.

Nét mặt Cha xứ rõ khó coi từ tôn trọng lắng nghe chuyển dần sang cảm thông, thấu hiểu. Chị đang mắc kẹt trong biển đức tin, chị từng có niềm tin và hy vọng, chị bằng lòng khi mọi sự tốt lành xảy ra, còn bão tố ập đến lại làm chị hoảng hốt nên chị sợ hãi, mất lòng tin, chẳng thể nào trách chị. Cha không oán chị, người phụ nữ làng quê chất phác, ít học đang hoang mang tìm Chúa. Cha trách chính mình đã tìm đến chị quá chậm, lẽ ra Cha nên mạnh mẽ hơn, dứt khoát hơn nữa trên con đường thực thi sứ vụ này. Còn kịp, vẫn còn kịp, những lời lẽ thường dân của chị cho Cha biết đèn trong lòng chị vẫn còn leo lét, chừng nào thâm tâm chị còn trăn trở, trái tim chị còn thổn thức, lý trí chị còn chưa chịu khuất phục tiếp tục đặt vấn đề về niềm tin thì cơ hội thắp sáng tim đèn hắt hiu vẫn còn trong trạng thái của niềm hy vọng.

“Con trai chị lúc còn sống chắc hẳn đã rất nhiệt thành trong các việc tông đồ nhỉ! Vậy thằng bé có kể cho chị nghe tại sao cháu lại yêu mến thầy giảng Anre Phú Yên nhiều như thế không?”

“Ở đây ai mà chẳng biết đến thầy giảng Anre thưa Cha, ngày ngày con đều chứng kiến biết bao nhiêu đoàn khách hành hương đến đây”.

“Thế nên tôi mới hỏi chị có thắc mắc vì sao họ tìm đến đây nếu họ chưa từng cảm nghiệm được gì về Thiên Chúa? Và con trai chị cũng vậy, cháu yêu mến thầy Anre là điều đáng trân quý; bởi thánh nhân là mẫu gương của sự trung thành tuyệt đối với Chúa Ki-tô và là nguồn cảm hứng cho giới trẻ trong việc sống và làm chứng cho đức tin. Thằng bé đã sống một cuộc đời đáng sống, đầy ý nghĩa và tràn đầy nhiệt huyết – điều mà giới trẻ ngày nay cần được trang bị”.

“Con nghĩ Cha biết rõ hơn con chứ, con không xét quá khứ của thánh nhân, điều con khổ tâm là cái chết của con trai. Sự nghiệp, tình yêu hay những gì tốt đẹp trên thế gian này kể cả Thiên Chúa, tất cả dường như quay lưng lại với thằng bé. Lúc còn sống thằng bé hiền lành lắm, nó còn nói muốn sau này lớn lên sẽ trở thành linh mục phục vụ nhà Chúa. Nhưng ….”. Không kìm nỗi sự mất mát, lúc này chị Hiên nước mắt lưng tròng nghẹn ngào.

“Tôi cảm thương với nỗi khổ của chị lắm, chị Hiên. Là những người hành hương của hy vọng, chúng ta được mời gọi bước đi cùng nhau dưới ánh sáng của Lời Chúa, Lời mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, Lời đổi mới và sưởi ấm con tim đang bị bóp nghẹt bởi những nổi trôi kiếp người. Chân phước Anre trước khi chịu tử đạo đã trải qua cuộc tra tấn khốc liệt dưới triều chúa Nguyễn bạo tàn. Nghiệt ngã thay, chính mẹ thánh nhân đã chứng kiến con trai chịu hành hình, chịu xử tử. Dù chỉ là một nông dân nghèo nhưng bà có niềm tin về cái giàu có mà Thiên Chúa quyền năng đang nắm giữ. Chị Hiên, nỗi đau mất con khiến lòng trí chị chịu day dứt oán trách, nó làm chị dần quen với nỗi trống vắng rồi khép lòng với Chúa và với tha nhân. Chị hãy tha thứ cho chính mình và tha thứ cho những điều bất như ý xảy đến trong đời. Đức tin Ki-tô giáo giúp chúng ta hy vọng về ngày sau hết, ngày mà chúng ta gặp lại nhau trên Thiên Đàng, ngày đó chỉ có niềm vui, hạnh phúc”. Cha xứ cắt nghĩa về những điều mà bất cứ tín hữu nào cũng sẽ gặp phải khi lữ hành đức tin. Trên hành trình đó không thiếu những thách đố nhằm thanh luyện niềm tin, giúp các tín hữu ngày càng trưởng thành và xác tín cách mạnh mẽ hơn về niềm hy vọng mà họ hướng tới. Đó là chính Chúa, là Chân Lý đích thực cho những ai khao khát kiếm tìm.

Keng keng keng…. tiếng chuông nhà thờ cắt ngang cuộc trò chuyện. Hơn ai hết cha xứ là người tiếc nuối nhất. Lần sau đến, chị có chịu mở lòng nói chuyện với mình nữa chăng?

“Cha không làm lễ sao?”. Giọng ông Tư vừa lúc cắt ngang dòng suy nghĩ của Cha.

“Có chứ, tôi là linh mục, điều giữ chân tôi là thánh lễ, cũng chính thánh lễ là điều kết nối tôi với Chúa, với con chiên Chúa đã trao phó cho tôi, tôi càng không thể bỏ”. Cha nói mắt chuyển hướng nhìn xem biểu cảm của chị Hiên, chị cúi đầu rửa từng cái ly tỉ mỉ như đang trân quý báu vật. Tâm hồn chị đang lay động, cha biết tâm chị còn cảm giác chứ chưa chết hẳn, chị mất chồng mất con nhưng chưa mất lý trí, chị còn có thể quay lại, tia hy vọng vụt lóe khi hoàng hôn đang ập xuống. Cha vui lắm, là niềm vui thiêng liêng khi thi hành sứ vụ. Ai đã từng cứu vớt một tâm hồn chắc hẳn đã một lần nhìn thấy ánh sáng từ vực thẳm sức sống của một nhành cây cheo veo trên vách đá uốn mình ngoi lên tìm tương lai. Đèn cạn dầu có thể châm thêm, còn đèn tâm hồn đã tắt hỏi đời người có cơ may nào thắp sáng? Ai bảo mất động lực sẽ quỵ ngã, ai bảo đã mất rồi thì không thể tìm lại, ai bảo nguội lạnh thì không thể hâm nóng, ai bảo tội nhân lại không thể có tương lai? Chúa có cách của Chúa, Chúa quyền năng có thể biến tồi tệ hóa quân bình nhiệm mầu. “Chị Hiên, tôi về đây, chị sẽ không phiền nếu tôi đến lần sau?”

“Nếu Cha có ý thì con có phiền cũng là do con nhọc lòng”. Ý trong lời chị Hiên nói rõ ràng quá chừng, Cha nghe hiểu ngay cười mãn nguyện.

Đêm hôm đó, dưới cùng một vòm trời thổn thức nhiều tâm sự. Dưới ánh đèn bàn vàng dịu, Cha xứ trẻ viết xuống đôi dòng nhật ký truyền giáo còn bỏ ngỏ chiều nay. Kết quả của cuộc gặp gỡ hôm nay không do cha quyết định cũng không biết có làm dịu đi khúc mắc trong lòng chị Hiên phần nào. Hết thảy đều nhờ ơn Chúa, ngọn lửa sứ vụ không cho phép cha tìm hư ảo ỷ lại bản thân. Cha vẫn luôn nhớ lời khấn đã từng hứa với chân phước Anre ngày đặt chân đến thánh địa này: “Xin giữ nơi con chất lửa của một vị thầy giảng, chẳng phải để làm vinh danh con nhưng là ánh sáng giúp con soi dẫn chiên lạc về với Chúa”. Sứ mạng của người giáo lý viên chẳng phải là rao truyền nước Chúa cho mọi người nhận biết và tin theo sao? Giờ Cha đã là linh mục nhưng không có nghĩa rằng Cha sẽ phủ nhận vai trò giáo lý viên của mình. Dù có là ai đi chăng nữa chúng ta cũng không thể chối bỏ căn tính Ki-tô hữu của mình. Đèn trong lòng cha xứ trẻ vẫn sáng, luôn sáng và sẽ lan tỏa cho những ai cần được sưởi ấm lúc đêm đen.

Cũng đêm đó chị Hiên trăn trở, miên man nhớ chồng nhớ con và cả những lời lẽ cha xứ trẻ hỏi lúc chiều: “Người ta có thật sự được ơn không? Họ xin gì cùng thánh Anre Phú Yên?” Chị chạm tay lên di ảnh con trai rồi thầm thĩ: “Con trai, ba năm rồi mẹ không thể đối diện với sự thật, mẹ tưởng mình có thể đòi lại con hay chí ít nỗi khổ của mẹ được an ủi. Mẹ thất vọng kêu trách Chúa qua cách sống của mẹ, Chúa càng im lặng mẹ càng thấy mình cô đơn lạc lõng. Mẹ kêu gào hỏi Chúa ở đâu, có hay chăng nhìn thấu nỗi thống khổ này. Từ khi con đi, niềm vui tháng năm của mẹ cũng đi cùng con, lòng mộ đạo tất nhiên thoáng đó nhạt màu. Mẹ sai rồi, mẹ không nên oán trách Chúa càng không nên gồng mình chịu day dứt bao năm qua. Mẹ không thể cao thượng như mẹ của thầy An-rê từng bước dắt con trai đến học đạo; rồi lại hiên ngang nhìn chính con ruột chịu hành hình. Tử đạo là phúc của thánh nhân, sinh ra con là phần phúc Chúa ban cho mẹ. Mẹ thay con sống tiếp, sống trân quý phút giây hiện tại vì mẹ tin trên Thiên Quốc con luôn dõi theo mẹ”.

Đôi lúc nước mắt là đại biểu trung thành của đau khổ, giờ phút này nước mắt lại được hân hoan đứng ở bậc hào quang, xóa tan muộn phiền, xua đi ngăn cách chính con người xây nên. Không biết đã khóc bao lâu, khi thức dậy đã là sáu giờ sáng, chị chưa bao giờ cho phép bản thân nghỉ ngơi quá bình minh. Hôm nay chị không bán hàng, đâu cần phải dọn hàng; chị không chôn mình trong góc tối nữa, từ nay từ đây chị chọn bước qua dải ngăn cách để đặt chân đến vùng ánh sáng.

Nhà thờ Mằng Lăng cách nhà chị chừng 400 mét, chị khóa cổng xoay người lại nghe giọng Bà Tư hỏi: “Hôm nay nghỉ bán đi đâu hả Hiên?”.

Chị khựng lại, bởi chị đã quen với cái nết nín lặng dù ai đó cố hỏi han bắt chuyện. Lúc này, chị thấy rõ lòng mình nhất, chị vẫn chưa thể ra khỏi chính mình dù đã bước ra khỏi căn nhà giữ chân chị bao năm qua. Nét thờ ơ vẫn quấn lấy, như cô gái loay hoay tìm dầu ngày chàng rể đến trong dụ ngôn Mười trinh nữ của thánh tác Mat-thêu, chị quay ngoắt sải bước đến đền Chân Phước An-rê Phú Yên.

Một cái xoay người ngoảnh lại đã là ba năm…

Ba năm – đủ để biến thói quen thành nhân cách, đủ để quen với cô đơn chẳng còn cảm giác của sự quan tâm, đủ để lập trình lối sống vô cảm trước thế sự trần gian. Đèn trong lòng còn đó nhưng làm thế nào giữ lửa để đèn tiếp tục cháy sáng là điều cần kíp mà bất kỳ tín hữu nào cũng phải quan tâm.

Bà Tư không khó chịu vì cách cư xử đó của chị, nhìn theo cho đến khi chị bước chân vào cổng nhà thờ, bỡ ngỡ thốt lên:

“U là trời, hôm nay ngược gió con Hiên nó đi nhà thờ.” Nói rồi bà quẹo vô nhà hàng xóm chỉ để thông tin cho bà Bảy về chuyện bất ngờ vừa chứng kiến. Chẳng mất bao lâu cả khu xóm nơi chị ở đều biết chuyện chị Hiên đến nhà thờ. Tưởng câu chuyện đã kết thúc không mấy tốt đẹp cách đây ba năm nhưng nay lại có thể hy vọng được viết tiếp phần sau. Chuyện đời chuyện người kết là hết, mà hết nghĩa là đã tách khỏi thế gian.

“Hổng lẽ ông Cha thành công khuyên con Hiên?”. Bà Bảy đặt nghi vấn.

“Sau bữa đó có nghe ai nói gì đâu, chắc nó đi gặp bà con gì bên đó chứ gì?”.

“Ba năm nay có thấy nó tới lui với bà con nào đâu, ngoài đi chợ nó còn đi đâu nữa chứ”. Bà Bảy không đồng ý với cách giải thích của bà Tư.

“Bà lắm chuyện, nếu nó đến nhà thờ thì mừng cho nó chứ. Cha xứ trẻ chẳng phải đã nói đối với con người thì không thể nhưng đối với Thiên Chúa thì có thể sao! Ơn trên khó đoán lắm”. Bà Tư nói thêm

“Đúng là nên mừng, nhưng bà xem đây có phải phép lạ không, từ khi nói chuyện với Cha xứ trẻ nó chịu đi nhà thờ rồi đó”. Bà Bảy không thôi thắc mắc muốn hỏi cho ra lẽ.

“Ừ, hỏi ông trùm Như là biết chứ gì”. Bà Tư tò mò, muốn biết thực hư chuyện lạ này.

Dấu chấm hỏi to tướng vẫn còn bỏ ngõ, không ai hiểu chị Hiên đang làm gì, bởi chính chị cũng chưa hiểu hết chính mình. Nỗi thống khổ ập đến lay động kế hoạch tưởng chừng như đã nắm chắc phần thành công. Mất đi thứ mình từng yêu thương, từng tin cậy chị nào dám nghĩ đến ngày mai. Lúc này, chị hành động theo lương tâm thôi thúc. Đứng lên! Ra đi! Chị sẽ nhận được gì, chị không chắc, chỉ hy vọng điều chị làm con trai sẽ vui.

Chị vào nhà thờ, cúi chào Thánh Thể, chọn bàn quỳ góc khuất gửi thân, ngước nhìn Thánh Thể thả hồn: ““Lấy tình yêu đáp trả tình yêu, đem mạng sống đáp đền mạng sống”. Câu nói đó cứ vờn trong khối óc, tình yêu mạnh mẽ khiến người ta chấp nhận hy sinh, đánh đổi.. Ngày ấy có phải Thầy An-rê cũng khâm phục, ngưỡng mộ tình yêu mà Chúa dành cho nhân loại nên quyết chọn theo Chúa đến gươm đao kề cổ mà vẫn thốt lên lời tuyên xưng: “Thánh giá Chúa tôi, sao tôi giẫm lên cho được”. Nếu không có sức mạnh của tình yêu thì thánh nhân lấy đâu ra can đảm để tuyên xưng niềm tin. Ngày đó, khoảnh khắc đao kề cổ thánh nhân có cảm giác gì? Sợ hãi? Hoảng loạn? Chỉ cần một câu nói chối Thầy Giê-su là thánh nhân có thể thoát cái chết trong gang tấc, tại sao ngài không nói ra, nói một lời là có thể sống?”

Có, ngài có mở miệng lại nói lên những lời bất hủ: “Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp lại Tình Yêu của Chúa chúng ta, hãy đem mạng sống đáp lại mạng sống”. Chị hồi tưởng về cuộc đời thầy giảng như chị từng là người quen cùng thời biết thầy đã lâu, chẳng hiểu vì điều gì mà chị đang cảm thấy mình được an ủi đến lạ thường. Chị nhớ lại bài thơ con trai viết trong nhật ký mới hiểu được phần nào tâm tư của mẹ thánh nhân khi xưa. Ở đời này mất con nhưng có thể gặp được nhau ở đời sau nơi Thiên Quốc. Đức tin nói cho chị về sự cậy trông này, là con cái của Chúa, là một thành phần trong Giáo Hội, chị là người hành hương của hy vọng. Đèn trong lòng một lần nữa lóe sáng, chị không còn hỏi Chúa ở đâu khi gặp sự khó nữa, chị xác tín Chúa gần bên chứ chẳng ở đâu xa vời vợi, chỉ là mất mát quá lớn làm chị không kíp nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Từng câu từng chữ con trai viết trong dòng thơ hiện lên trong tâm trí, chị đọc thầm:

Ngay trong niềm vui vẫn bao hàm nhiều nước mắt

Ngay giữa cuộc sum họp đã ẩn tàng mầm chia ly

Khi trong con không đăng trình trên một đại lộ

Nhưng gửi chờ bằng đôi chân mẹ yêu

Con đau đớn thốt lên trong lòng

Tại sao vậy hay Chúa nỡ quên con

Bao ước mơ và đau khổ của mẹ

Sao nặng gánh cho một kẻ đăng trình…

 

Khi con hiểu và thật sự đã hiểu

Bước vào đời nhiều điều không tránh khỏi

Để con cũng có cuộc đời của riêng con

Để vác trọn thập giá đường đời con

Để con buông mà không hề níu kéo

Thầm viết cho đời hai chữ “Tri ân”

Căn bệnh nay ăn mòn từng tế bào

Nhưng trong con một hy vọng lớn lên

Một thao thức bình an tận sâu thẳm

Con có một quê hương ở trên trời!

 

Sự đau đớn trong con như bất tận

Bỗng một ngày hóa thành một niềm vui

Có một ngày con được gặp Chúa

Và chúng ta sẽ lại gặp nhau

Con trân trọng từng niềm vui hiện tại

Cơn đau đớn trong con là buông bỏ

Gieo cho đời nụ cười trong an nhiên

Con còn mẹ có Chúa bên con mãi

Theo ý Chúa

Cuộc đời con : tất cả là hồng ân!

Gói ghém cảm xúc trong dòng suy tư, quỳ trước Thánh Thể chị được nghỉ ngơi thật sự sau bao năm chất chứa bão lòng. Cánh cửa trái tim đã mở, chị tìm và chọn Chúa làm điểm tựa sau biết bao sóng gió cuộc đời. Trước đây, chị vốn là con chiên ngoan đạo. Thời trẻ, chị rất hăng say phục vụ nhà Chúa. Chất men Ki-tô hữu cuối cùng đã bén mùi. Dù đã từng chối bỏ Thiên Chúa nhưng Thiên Chúa không bao giờ chối bỏ hay lãng quên bất kỳ ai hy vọng. Chị nhận ra Chúa thương mình đúng như giao ước Ngài đã lập. Giờ đây, chị biết mình nên làm gì mới có thể đem lại bình an thật sự. Chị cần làm hòa với Thiên Chúa qua Bí tích Giao hòa.

“Nếu chị đã dọn lòng thì tôi luôn sẵn sàng. Thiên Chúa giàu lòng thương xót không bao giờ từ chối bất kỳ ai, huống hồ đây lại là con chiên lạc mà Chúa mong mỏi được ẵm đưa về”. Cha xứ xúc động về sự hoán cải của chị Hiên.

“Vâng, thưa Cha, con sẵn lòng đón nhận Bí tích Giao hòa, xin cha thay mặt Chúa mà tha tội cho con”. Với nét mặt hiền hòa, Chị Hiên khiêm tốn nói với Cha mong muốn của mình.

Giữa trưa nắng gắt, sân nhà thờ không một bóng người, bước xuống từng bậc thang thấy cay cay nơi khóe mắt chị Hiên một tay che đầu một tay quệt đi chất lỏng âm ấm, mằn mặn. Chị Hiên cảm thấy nhẹ lòng rất nhiều sau những biến cố xảy đến, có Chúa mới biết rõ lòng chị đang mang loại cảm xúc nào. Phải chăng tình yêu và tha thứ là nhiên liệu tốt nhất để giữ cho đèn trong tâm hồn luôn cháy sáng?

[1]Truyện thánh An-rê Phú Yên. Lưu hành nội bộ.

 

* Anê Thành Nguyễn Thị Tuyết My
Giáo xứ Hà Văn, Giáo phận Phan Thiết
Giải Triển vọng cuộc thi ‘400 năm – Người chứng thứ Nhất’