Công thức rửa tội bằng chữ Quốc ngữ

08/07/2025 2102 lượt xem

* Lm. Nguyễn Mai Kha S.J.
Tọa đàm ‘Cha Đắc Lộ và chân phước Anrê Phú Yên’

(Thủ Đức – 07/2025)

Mục Lục

 

Chữ viết tắt

Dẫn nhập

  1. Mô tả bản văn viết tay Jap.Sin. 80, ff. 35r-40v
  2. Công thức rửa tội và tranh luận về từ ngữ

               Nhân danh

               Từ “Danh” có nghĩa gì?

               Đề nghị công thức rửa tội khác: “Tau lấij một tên Cha và Con, và Spririto santo rửa mầi.”

  1. Bản văn viết tay năm 1648 của Lm. Saccano.
  2. Ý kiến từ Toà Án Dị Giáo và những diễn biến tiếp theo.

Kết Luận.

Phụ Lục.

Thư Mục.

 

Chữ viết tắt

ARSI         Archivum Romanum Societatis Iesu

f.               tờ

ff.              các tờ

Jap.Sin.   (Provincia) Iaponiae et (Viceprovincia) Sinensis

Lm.           Linh Mục

nt              như trên

r                   mặt trước

v                  mặt sau

x.              xem

 

Dẫn nhập

 

Không biết từ khi nào, trong nghi thức rửa tội để gia nhập Ki-tô giáo, giáo dân ở Đàng Trong và Đàng Ngoài nghe được công thức bằng tiếng Việt, thay vì nghe công thức tiếng La-tinh mà các thừa sai dùng để rửa tội những Ki-tô hữu đầu tiên trên đất Việt. Nhưng năm 1645, tức khoảng 30 năm sau khi các Giê-su hữu đầu tiên đặt chân lên đất Việt, công thức rửa tội bằng chữ quốc ngữ xuất hiện trên văn bản, đó là kết quả của cuộc họp ở Ma Cao của gần 40 thừa sai Dòng Tên. Một khi được chuẩn nhận bằng văn bản, công thức này sẽ được chính thức dùng trong phụng vụ bí tích thanh tẩy cho giáo dân. Câu hỏi đặt ra ở đây là các thừa sai Giê-su hữu dịch công thức rửa tội từ tiếng La-tinh sang tiếng Việt thế nào? Công thức ấy được viết bằng chữ quốc ngữ ra làm sao? Sự kiện này đánh dấu cột mốc lịch sử quan trọng trong hành trình truyền giáo trên đất Việt vì hai lẽ: (1) lần đầu tiên công thức rửa tội được dịch ra tiếng Việt và viết xuống bằng chữ quốc ngữ; (2) cũng là lần đầu tiên quan điểm thần học về Chúa Ba Ngôi được bàn thảo và ghi lại bằng chữ quốc ngữ.

Bài viết này cung cấp những dữ kiện lịch sử chính yếu liên quan đến việc hình thành công thức rửa tội bằng chữ quốc ngữ; những tranh luận liên quan đến ngôn từ, cách nói, cách hiểu tiếng Việt vào thời điểm 1645 của các thừa sai Dòng Tên. Bài viết sử dụng lối phê bình lịch sử dựa trên các bản văn viết tay hiện có với mục đích phác hoạ được bối cảnh lịch sử và những diễn biến chính của sự kiện. Chắc chắn những gì được lưu lại trên văn bản là những gì tác giả bản văn muốn truyền đạt, nhưng luôn gắn liền với một sự kiện và thời đại nhất định. Bài viết này không có tham vọng giải trình thấu đáo mọi nguyên do của thời đại mà sự kiện ấy xảy ra, mà chỉ hướng đến một cái nhìn tổng quát của vấn đề nhờ vào dữ kiện thu thập được từ bản văn gốc. Những lối tiếp cận khác sẽ là chìa khoá để mở ra nhiều cánh cửa còn khép kín của lịch sử.

1.      Mô tả bản văn viết tay Jap.Sin. 80, ff. 35r-40v

Đối tượng nghiên cứu của bài viết này là bản văn viết tay bằng tiếng Bồ Đào Nha hiện được lưu trữ trong Văn khố Dòng Tên ở Roma có tựa đề Manoscrito, em que se prova, que a forma do Bauptismo pronunciada em lingua Annamica he verdadeira.[1] Tạm dịch nghĩa là Bản văn viết tay chuẩn nhận cách đọc chính thức công thức rửa tội bằng tiếng Việt. Là một bản văn khổ 21x29cm, các tờ 39-40 để trống, ngoại từ trang 40v, ở góc cao bên phải ghi 1645. Mỗi trang có khoảng 34-36 dòng, viết cẩn thận, khổ chữ trung bình, canh lề trái phải rất chỉnh, các dòng rất thẳng và cách đều nhau, phần lớn nội dung được viết bằng tiếng Bồ Đào Nha, ngoại trừ một vài đoạn bằng tiếng La-tinh. Các thuật từ được bàn đến đều được gạch dưới để nhấn mạnh, các trang được đánh số ở góc cao, phân biệt trang chẵn lẻ; góc dưới bên phải được đánh số hiện đại theo thứ tự của bộ Jap.Sin. 80. Trang đầu tiên, ở góc trái ghi tên người nhận: Pe Assistente de Portugal –  Cha phụ tá Tỉnh dòng Bồ Đào Nha; dòng thứ hai, ở giữa là ký tự viết tắt tên Giê-su bằng tiếng Hy Lạp IHS; dòng thứ ba là tựa đề như đã nêu ở trên. Phía dưới dòng thứ nhất ghi 2a via, cho biết bản văn được gởi theo đường thứ hai, vì lý do an toàn theo thông lệ thời đó.

Nội dung bản văn được chia làm ba phần: giới thiệu bối cảnh lịch sử, các vấn đề tranh luận và danh sách tham dự viên. Phần giới thiệu với việc đề cập đến các mốc thời gian khác nhau làm nảy sinh vấn đề thời gian soạn thảo bản văn. Theo đó, ở đầu và cuối văn bản đề cập đến mốc thời gian là năm 1645, nhưng trong phần giới thiệu, tác giả có đề cập đến mốc thời gian khác, đó là câu: “ Như vào năm ngoái, năm 1651 […]”. Như thế, phần giới thiệu này được tác giả soạn thảo vào năm 1652[2], sau đó chép lại biên bản[3] cuộc họp năm 1645 ở Ma Cao, bao gồm cả danh sách tham dự viên. Về tác giả bản văn, theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, phần giới thiệu là của Lm. Filippo Marini[4], còn biên bản cuộc họp năm 1645 thì không rõ ai là tác giả. Lm. Đỗ Quang Chính lập luận rằng dù Marini có tham dự cuộc họp ở Ma Cao năm 1645, nhưng hiểu biết tiếng Việt chưa đủ để ghi lại biên bản ấy với rất nhiều thuật ngữ bằng chữ quốc ngữ liên quan đến công thức rửa tội.[5]

Để hiểu được lý do vì sao Lm. Marini soạn thảo văn bản này, chúng ta cũng xem qua phần giới thiệu bối cảnh lịch sử của bản văn trong phần lược dịch dưới đây:

Vào năm 1645, Lm. Đắc Lộ trình bày với Lm. Manoel Azevedo, lúc ấy là Giám sát Tỉnh dòng Nhật Bản và Trung Hoa, về những ưu tư liên quan đến công thức rửa tội bằng tiếng Đàng Ngoài. Do vậy, Lm. Giám sát chỉ thị cho Lm. João Cabral, khi đó là Viện trưởng và Phó Giám tỉnh Nhật Bản, triệu tập hội nghị và thu thập ý kiến qua văn bản để tìm hiểu vấn đề này cho thấu đáo. Thành phần tham dự hội nghị khi ấy, ngoài những Lm. đến từ các vùng truyền giáo, còn có những Lm. đang làm việc tại Đại Học của Dòng Tên ở Ma Cao, trong số này có bốn người thông thạo Tiếng Việt, và họ sẽ hỗ trợ rất nhiều trong những gì liên quan đến ngôn ngữ. Ngoài ra, còn có hai Lm. đến từ Trung Hoa, được nhắc đến trong văn bản, cũng như các vị đến từ Đàng Ngoài. Như vậy, hội nghị có khoảng 40 người, chia làm hai nhóm, họp nhau trong vài ngày để lắng nghe các ưu tư của Lm. Đắc Lộ, thuyết trình trước hội nghị và cả bằng văn bản. Sau khi đã xem xét kỹ lưỡng tất cả các lý do Lm. Đắc Lộ nêu ra, các tham dự viên hội nghị đưa ra ý kiến của mình, bằng văn bản, và tất cả đều nhất trí, ngoại từ hai Lm. bỏ phiếu trống do không hiểu tiếng Việt, rằng công thức rửa tội bằng tiếng Đàng Ngoài là chính xác mà không cần điều chỉnh gì thêm, và yêu cầu Lm. Đắc Lộ không được nhắc lại vấn đề này nữa, và yêu cầu các Lm. ở sứ vụ Đàng Ngoài tiếp tục dùng công thức hiện có, và nếu ai theo ý kiến của Lm. Đắc Lộ, vị ấy sẽ bị đình chỉ công việc, và sự việc được tiến hành như thế […].[6]

Trên đây là phần nhắc lại quá khứ của năm 1645, lý do tại sao Lm. Giám sát lúc ấy quyết định triệu tập hội nghị để bàn về những nghi ngờ liên quan đến công thức rửa tội theo đề nghị của Lm. Đắc Lộ. Qua đó, chúng ta có thể suy luận rằng công thức rửa tội tiếng Đàng Ngoài đã xuất hiện trước thời điểm hội nghị năm 1645 và đã được các Lm. thừa sai ở sứ vụ Đàng Ngoài sử dụng. Rất tiếc hiện chúng tôi không có trong tay biên bản chính thức của hội nghị năm 1645 hay các tài liệu liên quan đến xuất xứ của công thức này mà chỉ được biết, như đã đề cập, ngang qua biên bản của Lm. Marini soạn năm 1652. Ngay sau đoạn nhắc lại quá khứ nêu trên, Lm. Marini đề cập đến biến cố liên quan đến mốc thời gian 1651 như sau:

Như sự việc diễn ra vào năm ngoái, năm 1651, Lm. Giám sát Francisco Furtado chỉ định Lm. Metello Saccano làm trưởng sứ vụ Đàng Trong, vị này là một trong hai hội nghị viên (năm 1645)[7] không đưa ra ý kiến biểu quyết, nay lại đặt lại vấn đề ấy. Lm. Giám tỉnh João Cabral, khi ấy đã làm giám tỉnh được gần ba năm và đi thăm viếng sứ vụ Đàng Ngoài, lại nhận được thư đồng thuận (ngược lại ý kiến của Lm. Saccano) của tất các các vị đã truyền giáo nhiều năm ở sứ vụ này. Và như trong lần tranh luận trước kia, theo chỉ định của Lm. Manoel de Azevedo, lần này tôi lại sắm vai kẻ thù vô hình khi được chỉ định để liệt kê ra đây những lý do (cho việc chọn lựa công thức rửa tội)[8] mà chẳng có lý gì để phản đối cả. Như vậy, văn bản này sẽ được lưu giữ trong văn khố Tỉnh dòng cũng như có thể gởi cho Cha Bề Trên Cả.[9]

Theo lời của Lm. Marini trong đoạn văn trên, chúng ta thấy vấn đề liên quan đến công thức rửa tội tiếng Việt được làm nóng trở lại, lần này là do Lm. Saccano. Vị này, cùng với Lm. Đắc Lộ, trong hội nghị năm 1645, đã biểu quyết phản đối công thức rửa tội được đa số các vị khác đồng ý. Trong bản báo cáo này, Lm. Marini cho rằng ở lần họp trước Lm. Saccano không đưa ra ý kiến có lẽ muốn giảm nhẹ tình tiết chăng?! Dù sao, danh sách[10] tham dự viên hội nghị năm 1645 chỉ rõ điều đó. Một chi tiết khác Lm. Marini đề cập khi nói về kẻ thù vô hình cho thấy rất có thể trong hội nghị năm 1645, chính Lm. Marini là người ghi lại biên bản, cho dù theo suy đoán của Lm. Đỗ Quang Chính là rất khó khả thi. Tuy vậy, như đã nói, chúng ta không có bản văn gốc của biên bản năm đó nên tất cả chỉ dừng lại ở suy đoán. Cuối cùng, Lm. Marini nêu ra lý do tại sao có văn bản này: từ đề nghị của Lm. Saccano và Lm. Giám tỉnh Cabral yêu cầu Marini đưa ra những lý do chính yếu cho thấy công thức rửa tội tiếng Việt được các hội nghị viên năm 1645 đồng thuận là hoàn toàn chính xác.

2.      Công thức rửa tội và tranh luận về từ ngữ

Mở đầu phần thứ hai trong báo cáo năm 1652, Lm. Marini viết: công thức rửa tội bằng tiếng Đàng Ngoài đọc thế này:

 Tau rữa mầї nhân danh Cha, và con, và spirito santo.[11]

Tiếp sau công thức rửa tội này là phần liệt kê những lý do gây tranh cãi về các từ ngữ liên quan theo lối đặt ra câu hỏi phản biện trước, theo sau là phần giải thích đối lại phản biện ấy. Phần này, Lm. Marini đề cập đến ba phản biện liên quan đến các từ: nhân danh, Danh, và sau cùng là công thức mới: Tau lấij một tên Cha và Con, và Spririto santo rửa mầi.

Nhân danh

Phản biện thứ nhất[12] nói: “Nhân danh không phải là lối nói chuẩn xác, chỉ dùng để giới thiệu, bởi ở xứ này, khi muốn nhắc tới vua, không ai nói nhân danh chúa mà dùng cách diễn tả khác, theo đó họ nói Tau lấy tên thay vì nói nhân danh.”

Đối lại phản biện này, văn bản giải thích rằng nhân danh, cho dù không phải là lối nói phổ thông, bởi từ ngữ này thuộc về văn viết hơn là văn nói, nhưng vẫn diễn tả đúng ý nghĩa của công thức rửa tội. Việc dịch công thức sang một ngôn ngữ khác đồng nghĩa với việc chấp nhận hình thức pha trộn ngôn ngữ ở một mức độ nhất định. Ví dụ cụm từ Tau lấy tên là cách nói phổ thông, thì nhân danh lại là văn viết, dù sao vẫn đúng với cụm từ tiếng La-tinh In nomine. Và cho dù kiểu nói này không phổ thông lắm, vì do sự pha trộn hình thức văn chương, nhưng công thức vẫn thành sự. Marini trưng dẫn một ví dụ trong tiếng La-tinh khi cố tình nói sai giống của các từ “Cha”, “Con” và “Thánh Thần” trong công thức rửa tội: “in nomine Patria, et Filia, et Spiritua Sancta” và khẳng định rằng cho dù lối nói này là sai ngữ pháp nhưng phép rửa vẫn thành sự bởi trong trường hợp ấy “câu chữ ám chỉ cùng một ý nghĩa”. Và từ ngữ nhân danh đảm bảo chức năng ý nghĩa này, cho dù khi phép rửa được thực hiện mà vắng mặt các thừa sai, giáo dân vẫn hiểu đúng ý nghĩa phép rửa mà họ lãnh nhận. Hơn nữa, tôi cho rằng cụm từ nhân danh khả tín và chắc chắn hơn vì là từ ngữ các cha thừa sai sử dụng ở Trung Hoa đã được giáo quyền chấp nhận và phần lớn các học sỹ ở Đàng Ngoài đều đồng tình với việc chọn từ ngữ nhân danh. Cả hai khả thể là nhân danh và tau lấy tên đều được xem xét và các thừa sai đã chọn nhân danh thay vì tau lấy tên.

Từ “Danh” có nghĩa gì?

 Phản biện thứ hai[13] liên quan đến từ danh, theo đó, “danh không có nghĩa là “tên” như khi chúng ta gọi một đồ vật, nhưng mang nghĩa tiếng tốt hay tiếng xấu”. Trong bản văn viết tay, ở điểm này, lề bên trái có trích dẫn Kinh Thánh: Eccless:ci 41. no. 15. Đó là câu trong sách Huấn Ca: “Hãy lo sao cho con được danh thơm tiếng tốt, vì hơn cả ngàn vạn kho vàng, tiếng tăm sẽ còn mãi.”[14]

Trả lời cho phản biện này, văn bản lập luận rằng từ danh không chỉ có nghĩa “danh tiếng”. Đúng là có từ tốt tên, tốt danh, tốt tiếng, hay như trong kinh Lạy Cha có cụm từ Danh Cha cã[15] sáng. Tuy nhiên, danh  không chỉ ám chỉ đến danh tiếng mà thôi. Bản văn đưa ra chứng cứ rằng, trong tiếng La-tinh, ngón tay thứ tư được gọi là “annularis” (ngón nhẫn), nhưng ở Đàng Ngoài, người ta gọi là vô danh, nghĩa là không có tên/danh phận. Hoặc khi nói về Thiên Chúa, những gì thuộc về Chúa hay quyền năng Chúa, chúng ta vẫn dùng cụm từ in nomine. Bản văn nhắc đến câu chuyện trong Kinh Thánh Tân Ước, sách Công vụ Tông đồ, chương 3 câu 6, về việc ông Phê-rô làm phép lạ chữa người què đi được: “In nomine Iesu Christi Nazareni surge et ambula!”[16]

Như thế, từ danh hoàn toàn có thể diễn tả ý nghĩa từ nomen trong tiếng La-tinh. Hơn nữa, danh là từ trong văn viết, được dùng cùng một chữ trong công thức rửa tội bằng tiếng Trung Hoa đã được huấn quyền ở Ma Cao chuẩn nhận và các vị thừa sai khác cũng đồng ý như vậy.

Đề nghị công thức rửa tội khác: “Tau lấij một tên Cha và Con, và Spririto santo rửa mầi.”

 Phản biện thứ ba[17] nêu ra vấn đề danh xưng Một Chúa Ba Ngôi. Theo đó, khi nói danh Cha và Con và Spirito Santo thì phải hiểu từ danh áp dụng cho cả ba Ngôi, vậy sẽ có nguy cơ hiểu rằng ba danh (in nominibus) thay vì một danh duy nhất. Vì thế, công thức được đề nghị sửa lại là “Tau lấij một tên Cha và Con, và Spririto santo rửa mầi.”

Câu trả lời phủ nhận cách hiểu như thế về từ danh của phản biện trên. Lý do là nếu nói nhân danh Cha và danh con, và danh Spirito Santo, điều này đồng nghĩa trong tiếng La-tinh là In nomine Patris, et in nomine Filij, et in nomine Spiritus sancti và theo đó từ danh có nghĩa số nhiều – in nominibus. Hay theo lối đề nghị của phản biện, sẽ có trường hợp nói nhân ba Danh hay nhân một Danh. Vậy vấn đề ở đây là chữ một hoặc chữa ba được thêm vào trước chữ danh với hai ý nghĩa: thứ nhất, khi nói ba danh thì không chính xác, vì sẽ đồng nghĩa với in nominibus/in tribus nominibus, sai so với công thức tiếng La-tinh; thứ hai, khi nói một danh thì cũng sai vì ý nhấn mạnh của từ một là chỉ có một Thiên Chúa. Nhưng đặc tính Thiên Chúa là điều thuộc về bản tính chứ không thuộc về Ngôi Vị và Giáo Hội không bao giờ nói trong công thức rửa tội ego te baptizo in uno nomine…(tôi rửa anh nhân một danh…) và nếu tổng hợp tất cả các lối điều chỉnh trên đây, trong tiếng Đàng Ngoài, công thức rửa tội sẽ thành ego te baptizo in uno nomine unius Patris, et unius Filij, et unius Spriritus sancti (tôi rửa anh nhân nhất danh Cha, và nhất danh Con và nhất danh Spritito Santo), điều này là hoàn toàn không thể chấp nhận được.

Sau khi đưa ra những giải thích cụ thể cho những phản biện nêu trên, văn bản tiếp tục lập luận về những lý do cho thấy sự cẩn trọng của các nhà thừa sai trong việc tiếp cận những lối hội nhập văn hoá, bởi không đơn thuần là việc dịch công thức rửa tội sang tiếng Đàng Ngoài, không chỉ là vấn đề câu chữ, mà còn liên quan đến cách hiểu của giáo dân, lối nói, cách viết khi đối chiếu với kinh nghiệm truyền giáo ở các nơi khác, cụ thể là ở Trung Hoa. Điều này cho thấy các thừa sai Giê-su hữu đã chọn phương thế phù hợp nhất trong bối cảnh cụ thể và luôn nhắm đến lợi ích thiêng liêng của tín hữu. Một trong những lý do các thừa sai muốn dịch công thức rửa tội ra tiếng bản địa là để giáo dân hiểu bí tích họ lãnh nhận. Trong thực tế, không chỉ các thừa sai trực tiếp rửa tội cho giáo dân, mà nhiều thầy giảng cũng cử hành bí tích này và theo các thừa sai thì có rất ít các thầy có thể đọc công thức rửa tội bằng tiếng La-tinh. Hơn nữa, trong số rất ít ấy thì hầu hết là đọc sai! Ví dụ thay vì đọc in nomine thì lại đọc thành in demone (ma quỷ!)[18] Nếu những ai được rửa tội với công thức đọc sai như thế, nay họ xin rửa tội lại thì quả là gây ra xáo trộn lớn trong cộng đoàn và sứ mạng. Vì thế một công thức bằng tiếng bản xứ sẽ rất giúp ích cho chính các thầy giảng trong công việc mục vụ.

Nếu nhìn lại bối cảnh lịch sử về văn chương của thời kỳ ấy, chúng ta sẽ nhận ra rằng các sách bằng Hán tự có chỗ đứng cao nhất bởi sự ảnh hưởng sâu rộng của Nho giáo trong giới học sĩ. Do đó, điều gì liên quan đến học thuật, và muốn có được sự khả tín cao nhất, điều ấy nhất thiết phải được ghi xuống bằng Hán tự.[19] Như vậy, một trong những lựa chọn cho việc truyền giảng đức tin Công giáo là sử dụng các sách giáo lý bằng tiếng Trung Hoa đã có sẵn từ các thừa sai ở Trung Hoa, và trong thực tế, năm 1632, hai Lm. Maiorica và Bernardino Reggio đã cho in ở Đàng Ngoài cuốn giáo lý nổi tiếng của Lm. Matteo Ricci và cuốn biện luận về đức tin của Lm. Francesco Buzomi.[20] Tuy nhiên, chỉ những ai có học thức mới hiểu được tiếng Hán, còn đại đa số dân thường không thể tiếp cận nguồn kiến thức này.

Một chọn lựa khác là dùng chữ Nôm, một lối ghi lại tiếng Việt bằng ký tự chữ Hán. Dù chữ Nôm không có chỗ đứng cao như chữ Hán, lựa chọn này là giải pháp tốt vì vừa đảm bảo tính học thuật của tiếng Hán, vừa đáp ứng tính phổ quát và dễ tiếp cận đối với thường dân; cũng như để đức tin được bén rễ trong văn hoá bản địa hơn là vay mượn ngôn từ của nền văn hoá khác.[21] Lối viết này dần dần hình thành các từ Hán Việt, đặc biệt với mục đích truyền tải những khái niệm triết học và tôn giáo.[22] Thiết tưởng tất cả những yếu tố này đã được các nhà thừa sai Dòng Tên lưu tâm trong tiến trình hình thành công thức rửa tội sao cho đáp ứng được tối đa các đòi hỏi về thần học, ngôn ngữ, văn hoá, độ khả tín, dễ tiếp cận và trên hết không làm mất đi đặc tính linh thiêng và hiệu quả của bí tích.

Tuy nhiên, đối diện với vấn đề đang gây nghi hoặc và tranh cãi, các nhà thừa sai vẫn chấp nhận một sự “rủi ro” nhất định. Theo đó, nếu có các khả thể ngữ nghĩa khác của ngôn từ trong công thức rửa tội bằng chữ quốc ngữ, mà các khả thể ấy không làm cho ngữ nghĩa sai lạc, hay ít là trong ý hướng của người đọc khi cử hành bí tích, thì mọi nghi hoặc và cẩn trọng thái quá sẽ trở nên cứng nhắc chứ không phải là lý do chính đáng.[23] Hơn nữa, đối chiếu với kinh nghiệm hội nhập văn hoá ở sứ vụ Nhật Bản và Trung Hoa, phần tuyên xưng Một Chúa Ba Ngôi trong công thức rửa tội giống với công thức làm dấu Thánh giá đã được chuẩn nhận, nếu bây giờ thay đổi, sẽ đi ngược lại với những gì đã được chuẩn nhận và không trân trọng đủ những đóng góp của các vị đi trước, cả về khía cạnh thần học lẫn kinh nghiệm truyền giáo. Hẳn rằng những gì được chuẩn nhận ở Trung Hoa, liên quan đến công thức rửa tội, các vị có trách nhiệm, đặc biệt là về khía cạnh thần học, đã suy xét thấu đáo trước khi đi đến quyết định cuối cùng. Như vậy, nguyên tắc trong việc này là, đối với những điều liên quan đến đức tin/thánh thiêng, chúng ta cần bảo đảm nguyên tắc cẩn trọng.

Thực ra, chuyện xảy ra với tiếng Việt liên quan đến công thức rửa tội cũng đã xảy ra ở Trung Hoa khi các thừa sai dịch công thức này sang tiếng bản xứ. Trong biên bản hội nghị, Marini trích lại nguyên văn một đoạn trong sách có thể gọi là cẩm nang truyền giáo của các Giê-su hữu ở Trung Hoa, kể lại cách các vị ấy đi đến quyết định cuối cùng:

Trong những nơi không thể thường xuyên thăm viếng, phải lo liệu sao cho ở đó có một tín hữu được đào tạo tốt, hiểu biết và cẩn trọng, chuyên cần tường thuật những gì xảy ra trong cộng đoàn. Biết chọn ai phù hợp để dạy cho công thức rửa tội và phải đọc thế nào cho đúng bằng tiếng Trung Hoa. Phải dùng công thức được chuẩn nhận bởi Giám mục Diogo Valente, bởi cha Giám sát Andre Palmeiro và các nhà thần học do Giám mục chỉ định và triệu tập. Do đó, Giám mục, là người đứng đầu đoàn chiên, chuẩn nhận và thiết định công thức để sao cho đúng với ý hướng của Giáo Hội.[24]

Đến đây, sau tất cả các lập luận, từ quan điểm ngôn ngữ đến ý nghĩa thần học; từ kinh nghiệm truyền giáo đến nguyên tắc cẩn trọng, văn bản đề cập đến tình huống vẫn còn những nghi hoặc và phản đối liên quan đến từ ngữ trong công thức rửa tội bằng tiếng Việt. Đó là trường hợp mà ngày nay chúng ta gọi là từ Hán Việt và từ đồng âm khác nghĩa[25]. Theo đó, có thể có người phản đối và thích dùng từ Phụ cho Cha, và Tử cho Con. Trong trườn hợp này, đã đành là không chính xác so với công thức được chuẩn nhận, nhưng các hội nghị viên chấp nhận khả thể này khi một người không rành về ngôn ngữ và có ý hướng tốt lành thì bí tích vẫn thành sự bởi “ngôn từ là để diễn tả ý hướng”. Miễn là khi dùng từ Phụ và Tử người ấy hiểu là ý hướng nhắm đến Cha và Con trong ý nghĩa Ba Ngôi Thiên Chúa chứ không theo tương quan phụ tử thông thường mà tác giả bản văn nhấn mạnh bằng từ cha ruột và con ruột. Đối với trường hợp từ đồng âm khác nghĩa cũng vậy, tác giả lấy ví dụ từ sống với hai ý nghĩa: sự sống/cuộc sống và sống (dùng để chỉ thực phẩm sống, chưa được nấu chín). Theo đó có thể xảy ra tình huống cùng một từ nhưng ý nghĩa văn cảnh khác nhau. Do vậy, ngôn từ có thể khác biệt giữa các ngôn ngữ khác nhau nhưng ý nghĩa và ý hướng thì giống nhau. Từ đó, công thức rửa tội được Giáo Hội chuẩn nhận trong tiếng La-tinh, khi được dịch sang tiếng khác thì thay đổi hình thức nhưng không thay đổi ý hướng, và do vậy tính bí tích vẫn được đảm bảo. Điều này có nghĩa công thức rửa tội bằng tiếng Đàng Ngoài, cũng như trong tiếng Trung Hoa, Nhật Bản, v.v. được chuẩn nhận và không có lý do gì để phản đối.

Sau phần trình bày các phản biện và trả lời phản biện là danh sách các tham dự viên hội nghị và biểu quyết của từng người. Trước khi liệt kê các tên, bản văn ghi rõ: “Đây là tên các Lm., theo lệnh của Cha Emmanuel de Azevedo, Giám sát Dòng Tên Tỉnh dòng Nhật Bản và Phó Giám tỉnh Tỉnh dòng Trung Hoa, đã tham dự hội nghị và chuẩn nhận công thức rửa tội chính thức bằng tiếng Việt. Năm 1645.”[26]

Theo đó, trong tổng số 35 tham dự viên, ngoài hai vị bỏ phiếu trống, hai vị không tán thành là Lm. Đắc Lộ và Lm. Saccano, học trò tiếng Việt của Lm. Đắc Lộ, 31 vị còn lại đều bỏ phiếu tán thành công thức rửa tội bằng chữ quốc ngữ như đã nêu. Danh sách bằng tiếng La-tinh còn ghi rõ trình độ tiếng Việt của năm vị, trong đó Lm. Gaspar d’Amaral[27] được đánh giá là thông thạo (peritissimus linguae). Riêng về Lm. Đắc Lộ và Lm. Saccano, hai vị này cũng đã học tiếng Việt đến một mức độ nhất định, nhưng danh sách tham dự viên không đề cập thông tin về trình độ ngôn ngữ của các vị ấy. Về Lm. Đắc Lộ, danh sách chỉ nói là Giáo sư thần học, đồng thời là bề trên sứ vụ Đàng Trong; trong khi đối với Lm. Saccano, là học vị Thạc sĩ. Sau cùng, bản văn trích dẫn một lần nữa sách Huấn ca, chương 6, câu 35a: “Hãy có mặt khi các bậc lão thành hội họp, thấy vị nào khôn ngoan, hãy hết lòng gắn bó.”[28]

Trên đây là sơ lược nội dung văn bản năm 1652, thuật lại những lý do chính yếu trong hội nghị năm 1645 ở Ma Cao liên quan đến công thức rửa tội bằng chữ quốc ngữ. Sau hội nghị ở Ma Cao, Lm. Đắc Lộ lên đường về Châu Âu, trải qua bao trở ngại nhưng cuối cùng cũng đến được Roma ngày 27 tháng 6 năm 1649. Tại đây, Lm. Đắc Lộ trình bày những nghi hoặc của mình liên quan đến công thức rửa tội bằng tiếng Đàng Ngoài, điều này khởi sự những diễn biến tiếp theo từ phản ứng của hội đồng thần học Dòng Tên và cả từ Toà Án Dị Giáo. Dường như tranh cãi về công thức rửa tội bằng tiếng Việt vẫn chưa kết thúc, các bản văn viết tay của Lm. Saccano vào năm 1648 và của Lm. Marini vào năm 1654 tiếp tục soi sáng và cung cấp cho chúng ta dữ kiện lịch sử quý giá.

3.      Bản văn viết tay năm 1648 của Lm. Saccano

Cho dù Lm. Đắc Lộ là người đề nghị bàn luận về công thức rửa tội, nhưng chính bản thân Lm. Đắc Lộ lại không để lại văn bản nào liên quan đến vấn đề này, ít là chúng tôi không tìm được trong văn khố những tài liệu như thế. Trong thực tế, mọi tài liệu tranh luận đều được cho là của Lm. Saccano, là học trò tiếng Việt của Lm. Đắc Lộ. Bản văn năm 1648[29] với tựa đề Circa formam Baptismi Annamico idiomate prolatam. Responsum ad P. Sebastianum de Amaya[30] là một tài liệu như thế. Bản văn viết tay này có hai bản, cùng một tựa đề, nhưng ở bản thứ hai[31], có chèn thêm mấy trang ghi lại văn bản, thường gọi là biên bản[32] của 14 giáo dân, bằng ba chữ viết: Nôm, La-tinh, quốc ngữ. Cho dù Lm. Đắc Lộ không trực tiếp chấp bút cho bất kỳ tài liệu nào, nhưng những gì được Lm. Saccano ghi lại chắc chắn phản ánh suy nghĩ và quan điểm của Lm. Đắc Lộ, và có lẽ Lm. Saccano cũng đồng ý với quan điểm ấy.

Trong tài liệu này, Lm. Saccano trình bày những vấn đề liên quan đến từ danh, không đặt trọng tâm về nghĩa nhưng về ngữ pháp. Điểm thứ nhất là về số của danh từ. Khi dịch sang tiếng Việt, công thức Nhan danh Cha, và Con, va Spirito Santo, từ danh là số ít và có thể gây ra hiểu nhầm rằng danh chỉ áp dụng cho từ Cha mà không áp dụng cho các Ngôi còn lại. Tác giả lập luận rằng, trong tiếng La-tinh hay tiếng Ý, từ vựng chia theo cách và số, nên khi đặt vào câu văn, từ danh vẫn liên kết với danh từ chỉ Ba Ngôi: Ego ti baptizo in nomine Patris, et Filii, et Spiritus sancti, trong đó các danh từ Patris, Filii và Spititus Sancti đều ở cách sở hữu, nghĩa là gắn với từ nomine, và giúp người đọc hiểu là danh Cha, danh Con, và danh Spirito Sancto. Dù không lập lại từ nomine, nhưng đặc tính ngữ pháp vẫn đảm bảo ngữ nghĩa của câu. Điều này đã được văn bản của hội nghị năm 1645 đề cập. Tuy vậy, đặc tính này tiếng Việt không có, và kết quả là, theo suy nghĩ của Lm. Đắc Lộ, chỉ một từ danh là không đủ để giúp hiểu chính xác công thức tuyên xưng này.[33]

Vấn đề tiếp theo là dù phải hiểu từ danh cho cả Ba Ngôi, nhưng dù Ba Ngôi vẫn phải hiểu chỉ một Chúa. Vậy để tránh hiểu ba danh thành ba Chúa, tác giả đưa ra đề nghị thêm chữ một vào trước chữ danh, cho dù trong tiếng La-tinh thì không cần dùng từ một vì tự bản thân từ nomine đã có hàm nghĩa số ít rồi. Trong tiếng Việt, theo Lm. Đắc Lộ, thì cần thêm từ chỉ số lượng để xác định rõ danh từ ấy số nhiều hay số ít. Để minh chứng, tác giả đề cập đến câu: Đức Chúa Blờy sinh ra chín đấng thiên thần là cuôn cuốc Đức Chúa Blờy.[34] Trong đó, từ thiên thần không thay đổi hình thức, để hàm ý số lượng cần có từ chín để làm rõ. Như vậy, công thức sẽ thành in uno nomine, sau đó mới đến tên Ba Ngôi và khi dịch ra tiếng Việt sẽ là nhân nhít danh Cha…[35] như chúng ta thấy được đề cập trong biên bản hội nghị năm 1645.

Trở lại với ba trang được chèn vào văn bản này của Lm. Saccano, được viết theo cột, từ phải sang trái, mỗi chữ có ba phiên bản: trên cùng là chữ Nôm, thứ hai là chữ quốc ngữ và La-tinh thứ ba. Nguyên văn và chính tả như sau:

Nhin danh Cha và Con và Su-phi-ri-to sang-to í này An-nam các bỏn đạo thị tín ràng ra ba danh bí bàng muốn í làm một thì phảy nóy nhin nhít danh Cha etc. Tôy là giu ão câї trâm cũ nghi bậї – tôy là An re Sen cũ nghi bậї – tôy là Ben tò vẫn triền cũ nghi bậї – tôy là Phe ro vẫn nhit cũ nghi bậї – tôy là An jo vẫn tau cũ nghi bậї – tôy là Gi-ro-ni-mo cũ nghi bậї – tôy là J-na so cũ nghi bậї – tôy là tho-me cũ nghi bậї – tôy là Gi-le cũ nghi bậї – tôy là lu-i-si cũ nghi bậї – tôy là phi-lip cũ nghi bậї – tôy là Do minh cũ nghi bậї – tôy là An ton cũ nghi bậї – tôy là Giu ão cũ nghi bậї. [36]

Viết theo chính tả hiện tại:

Nhân danh Cha và Con và Su-phi-ri-to sang-to. Ý này An Nam các bổn đạo thì tin rằng ra ba danh. Ví bằng muốn ý làm một thì phải nói nhân nhất danh Cha v.v. Tôi là Gioan Cây Trâm cũng nghĩ vậy. Tôi là Anrê Sen cũng nghĩ vậy […].

Còn nhiều câu hỏi chưa có giải đáp thoả đáng liên quan tới nguồn gốc, tác giả và thời gian soạn thảo của tài liệu này, cũng như ngụ ý chèn vào văn bản của Lm. Saccano, nhưng nội dung văn bản cho thấy các bổn đạo hiểu từ danh trong công thức rửa tội áp dụng cho cả Ba Ngôi mà không cần lặp lại cho từng trường hợp và chỉ cần nói như thế chứ không cần nói nhân nhất danh Cha mà vẫn hiểu ý nghĩa thần học diễn tả Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi.[37]

4.      Ý kiến từ Toà Án Dị Giáo và những diễn biến tiếp theo

Như đã đề cập ở trên việc Lm. Đắc Lộ trình bày những nghi vấn về công thức rửa tội bằng tiếng Việt cho các vị hữu trách ở Roma vào năm 1649. Tuy nhiên, sự kiện này được Lm. Marini đề cập trong bức thư[38] gửi Lm. Giovanni Luigi Confalonieri, Phụ tá Tỉnh Dòng Tên ở Ý vào năm 1655, trong đó có đoạn:

Lm. Đắc Lộ đã trình bày ở Roma vấn nạn liên quan đến công thức rửa tội bằng tiếng Đàng Trong, cũng là ngôn ngữ được dùng ở Đàng Ngoài. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là không chỉ Cha Bề Trên Cả mà cả Cha Phụ tá tỉnh Bồ Đào Nha đã không viết gì cho chúng tôi. Chỉ có Cha Đắc Lộ nói rằng Bộ Truyền Giáo ra sắc lệnh cho tiến hành xem xét vấn đề liên quan đến công thức rửa tội nói trên.[39]

Chúng tôi không có tài liệu nào đề cập đến việc Lm. Đắc Lộ trình bày vấn đề với ai, kết quả thế nào. Chỉ biết là sau đó, vào năm 1653, Lm. Saccano hồi đáp cho Lm. Marini về vấn đề đang tranh luận qua tài liệu có tựa đề Responsio ad Tractatum pro Annamica Baptismi forma tuenda, editum a P. Phillippo Marino Amacai, et ad P. Metellum Saccanum in Cocincinam trasmissum[40]. Nội dung vẫn là những tranh luận xung quanh vấn đề từ ngữ liên quan đến công thức rửa tội, nhưng điều chúng ta quan tâm là Lm. Saccano thuật lại văn bản của Toà Án Dị Giáo trả lời về vấn đề này. Về thời gian soạn thảo, bản văn đề ngày thứ Tư, ngày 26 tháng Giêng năm 1650, nguyên văn bằng La ngữ như sau:

Feria 4a, die 26, Januarii 1650.

In Congregatione Generali Sanctae Romanae ac Universalis Inquisitionis, habia in Conventu S. Mariae supra Minervam, coram Eminentissimis ac Reverendissimis Dominis, Sanctae Romanae Ecclesiae Cardinalibus in tota republica christiana contra haereticam pravitatem Generalibus Inquisitoribus a Sancta Sede specialiter deputatis.

Relato Memoriali de casu super forma Baptismi, servata in quadam provincia Indiae Orientalis ac votis Reverendorum Patrum Qualificatorum, Sacrae Congregationi praedictae visum est ex narratis probabilius videri, Baptismum fuisse validum; quia tamen multi ex Qualificatoribus contrarium sentiebant, visum est, si, facto diligenti examine, dubium de significatione illius vocis danh non possit superari, posse et debere repeti Baptismum sub conditione; ac in posterum, si vox aequivalens non reperiatur in eo idiomate (quod difficile creditur), expedire, ut retineatur vox Hispana, vel Latina in nomine, donec usus doceat, vocabulum aliud ejusdem idiomatis eandem vim habere.[41]

Chi tiết quan trọng nhất trong văn bản trên có lẽ là quan điểm thận trọng của Huấn quyền khi nói rằng Bí tích rửa tội do công thức bằng tiết Việt vẫn thành sự, nhưng khi những tranh luận liên quan đến ngữ nghĩa của từ danh, dù đã tra cứu cẩn thận, vẫn không đạt được kết quả thoả đáng, phép rửa phải được thực hiện lại với điều kiện[42] và trong tương lai nếu không thể tìm ra hạn từ tương ứng, thì phải dùng từ in nomine, và phải liệu sao để đọc cho đúng nhất có thể, cho dù có khác biệt về giọng nói của từng dân tộc.

Phản ứng này của Huấn quyền cũng là điều dễ hiểu, bởi kinh nghiệm chỉ ra rằng, thái độ thiếu thận trọng và thiếu hội nhập văn hoá đã gây ra những hệ quả không mấy tốt đẹp trong cuộc tranh luận về nghi lễ Trung Hoa xảy ra trước đó.[43] Giờ đây, đối diện với tình huống, dù là không phải là một điều hết sức hệ trọng, nhưng liên quan đến ngôn ngữ, và qua đó là phong tục tập quán và văn hoá riêng của một xứ truyền giáo. Tuy nhiên, thái độ thận trọng ấy lại không mấy thuyết phục các thừa sai đang ngày đêm vất vả trên cánh đồng truyền giáo.

Trong bức thư của Lm. Marini gởi cho Lm. Phụ tá Tỉnh Dòng Bồ Đào Nha ghi ngày 12 tháng 5 năm 1655, trình bày về những thay đổi xảy ra gần nhất và đặc biệt là việc Lm. Đắc Lộ đã gây ra phiền toái trong vấn đề phép rửa đã thực hiện. Theo đó, việc Toà Án Dị Giáo ra chỉ thị khi những tranh luận không có kết quả, thì coi như phép rửa trong tình trạng hồ nghi về tính thành sự, và do đó phải thực hiện lại với điều kiện và công thức phải được điều chỉnh.[44] Lm. Marini trải lòng rằng ở sứ vụ này, các thừa sai ngạc nhiên về điều Lm. Đắc Lộ nói, và từ xưa đến nay, các vị hữu trách và bề trên đã tin tưởng trao sứ vụ cho anh em, và những nghi hoặc lẫn tranh luận đều đã được báo cáo về nhà mẹ cách tỉ mỉ, cũng như các vị bề trên đâu phải đích thân đi đến các cung điện vua chúa ở xứ truyền giáo để thương lượng, vậy vì cớ gì Lm. Đắc Lộ lại thân chinh về Roma trình bày vấn đề để giờ đây xảy ra cơ sự này. Từ việc không hài lòng với Lm. Đắc Lộ, Marini cũng “than thở” về chỉ thị của Toà Án Dị Giáo, rằng: “Giá mà Huấn Quyền can thiệp mạnh hơn vào vấn đề này, nhưng bây giờ thì không thể được nữa. Tôi ước mong là sắc lệnh nói rõ hơn như họ đã hứa, nhưng năm nay thì chưa được. Thôi cứ để xem liệu chúng ta có thể thay đổi gì không.”[45]

Lm. Marini không chỉ viết thư cho Cha Phụ tá Tỉnh Dòng Bồ Đào Nha, như đã nói ở trên, còn có thư gởi cho Lm. Confalonieri, Phụ tá Tỉnh Dòng Ý với tâm tình và ưu tư về thực trạng sứ vụ trước phán quyết của Huấn Quyền. Theo đó, Lm. Marini, ngoài việc thông tri về những gì Lm. Đắc Lộ làm tại Roma và phản ứng của Huấn Quyền như thế nào, còn “kể tội” Lm. Đắc Lộ rằng “Cha ấy (Đắc Lộ) là một người vô cùng máy móc và chính điều này làm ảnh hưởng đến sứ vụ. Vấn đề nêu trên (công thức rửa tội) đã được bàn luận theo lệnh của Cha Giám sát với sự tham dự của 40 Lm. cách đây đã 10 năm. Điều mà các Lm. chỉ ra là Cha Đắc Lộ không có lý. Thế mà ngài tiếp tục tranh luận và không thay đổi bằng bất cứ giá nào.”[46]

Điều mà Lm. Marini lo ngại là những ảnh hưởng tiêu cực và xáo trộn cộng đoàn tín hữu gây ra do việc phải rửa tội lại cho những ai đã chịu phép rửa mà giờ đây rơi vào tình trạng hồ nghi. Với giọng văn khẩn thiết, Lm. Marini đề nghị với Lm. Confalonieri rằng:

Kính thưa Cha, con xin Cha đọc thư hồi đáp của con, được gởi kèm thư này bằng tiếng La-tinh và cả những gì con viết cho Cha Phụ tá Tỉnh Bồ Đào Nha bằng tiếng Bồ, con nghĩ là Cha dễ dàng hiểu và đánh giá được tình hình, và con ước mong Toà Án Dị Giáo cũng được thông báo về những gì đã xảy ra, bởi nếu chúng con phải thay đổi công thức rửa tội, thì các Cha thừa sai ở Trung Hoa cũng phải làm điều tương tự, vì chúng con mượn hai từ 因名 mà người Trung Hoa đọc là in mîm, và ở đây mọi người đọc là nhân Danh.[47]

Lm. Đắc Lộ, sau khi bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Đàng Trong, tham dự hội nghị ở Ma Cao năm 1645, sau đó lên đường đi Châu Âu và không bao giờ trở lại sứ vụ Viễn Đông. Chỉ còn Lm. Saccano tiếp tục chia sẻ và bảo vệ quan điểm của Lm. Đắc Lộ trong những tranh luận liên quan đến công thức rửa tội bằng tiếng Việt. Tháng 9 năm 1654, trong Hội nghị tỉnh Tỉnh Dòng Nhật Bản, Lm. Saccano được bầu làm đại biểu Hội nghị tỉnh và năm 1655 khởi hành đi Châu Âu từ cảng Makassar, thuộc Indonesia ngày nay. Thật không may, tàu rời cảng chưa được bao xa đã bị đắm, Lm. Saccano may mắn thoát nạn, nhưng mọi tài liệu đem theo đều chìm theo con tàu vào đại dương vô tận. Lm. Saccano buộc phải lưu lại đó cho đến năm 1659 mới trở lại Ma Cao và đảm nhận chức vụ Viện trưởng Đại học trong ba năm tiếp theo. Tháng 4 năm 1662, Lm. Saccano trở lại sứ vụ Đàng Trong, nhưng không lâu sau, ngày 17 tháng 8 năm ấy, ngài qua đời mà không để lại thêm bất cứ tài liệu nào, theo hiểu biết của chúng tôi, về cuộc tranh luận nói trên.

Xét theo trình tự thời gian, toàn bộ cuộc tranh luận về công thức rửa tội bằng tiếng Việt như sau:

  • Năm 1645: theo đề nghị của Lm. Đắc Lộ, Cha Giám sát Dòng Tên hai Tỉnh Nhật Bản và Trung Hoa cho triệu tập Hội nghị gồm 35 Lm. Dòng Tên tại Ma Cao bàn về công thức rửa tội tiếng Việt. Biên bản hội nghị năm 1645 (hiện tại không còn/chưa được tìm thấy).
  • Năm 1648: Báo cáo của Lm. Saccano cho Lm. Sebastian Amaya, có hai bản, bản thứ hai có chèn ba trang ghi ý kiến của 14 giáo dân bằng ba chữ viết: Nôm, quốc ngữ và La-tinh.
  • Năm 1649: Lm. Đắc Lộ tới Roma, trình bày vấn đề công thức rửa tội cho các vị hữu trách.
  • Năm 1650: ý kiến của Toà Án Dị Giáo về công thức rửa tội tiếng Việt.
  • Năm 1652: theo lệnh của Cha Giám sát, Lm. Marini viết báo cáo về vấn đề đang gây tranh cãi, chép lại biên bản cuộc họp năm 1645, làm thành biên bản năm 1652.
  • Năm 1654: Lm. Saccano được bầu làm đại biểu Hội nghị tỉnh và chuẩn bị đi Châu Âu.
  • Năm 1655: nhiều thư qua lại giữa Lm. Marini và Lm. Saccano. Lm. Marini viết thư cho Cha Phụ tá tỉnh Bồ Đào Nha và Tỉnh Ý. Lm. Saccano thoát nạn đắm tàu và lưu lại Makassar (Indonesia).
  • Năm 1659: Lm. Saccano trở lại Ma Cao, làm Viện trưởng tới 1662. Tháng 4 năm 1662 đến Đàng Trong và ít lâu sau, qua đời tại đó.

Bài viết này không có chủ ý đưa ra kết luận cuối cùng về kết quả hội nghị ở Ma Cao năm 1645, hay phân định ai là người có lý hơn về cách dịch ra tiếng Việt công thức rửa tội. Theo bối cảnh văn chương thời ấy, như đã đề cập cách sơ lược ở trên, dùng từ Hán Việt trong ngôn ngữ tôn giáo cũng là xu thế thời đại để truyền tải ý nghĩa và tăng thêm tính khả tín cho nội dung thông điệp. Như thế nhân danh là lựa chọn rất hợp thời. Mặt khác, nếu để đến gần với ngôn từ bình dân và thuần việt hơn, thì cách nói tau lấy tên sẽ là lối dịch đúng theo ngôn từ phổ thông. Cả hai lối diễn đạt đều có điểm thoả đáng và dựa trên lý lẽ nhất định. Tuy vậy, lịch sử luôn có câu trả lời của riêng mình, và trường hợp công thức rửa tội bằng tiếng Việt cũng không phải là ngoại lệ.

Kết Luận

Trước khi kết thúc bài viết, có lẽ cũng cần đề cập đến hai tài liệu khác, dù không được bàn đến cách cụ thể trong phần trình bày ở trên, nhưng có liên quan đến cuộc tranh luận này. Đó là tài liệu có tựa Retroscriptum pro Manuscripto P. Philippi de Marinis contra Rescriptum Patris Metelli Saccani[48], do Lm. Marini viết năm 1654, gởi cho Cha Confalonieri, Phụ Tá tỉnh Ý. Nội dung gồm nhiều vấn đề khác nhau của sứ vụ truyền giáo, nhưng một phần được dành cho việc bàn về công thức rửa tội. Đặc biệt, các tờ 67v-68r, liệt kê một danh sách từ vựng bằng tiếng Trung Hoa, bên cạnh đó có ghi nghĩa tiếng La-tinh, Việt và cách đọc trong tiếng Nhật Bản được phiên âm theo mẫu tự La-tinh. Tài liệu thứ hai là bức thư[49] Lm. Marini gởi cho Lm. Saccano đề ngày 1 tháng 5 năm 1655. Đây là một thư riêng, trong đó Lm. Marini giải thích cách hiểu hạn từ nhân danh trong tất cả các nghĩa tương đồng với từ La-tinh in nomine.

 Công thức rửa tội tiếng Việt được các thừa sai Dòng Tên thống nhất trong cuộc họp ở Ma Cao năm 1645 chẳng khác là bao so với công thức được dùng ngày nay, ngoại trừ danh từ nhân xưng được đổi lại cho phù hợp với sự phát triển của ngôn ngữ và thuật từ Thánh Thần thay cho từ tiếng La-tinh Spirito Sancto, khi đó các thừa sai còn chưa chắc chắn về cách viết chữ quốc ngữ. Điều này cho chúng ta nhận định rằng lối dịch công thức rửa tội năm 1645, và được các thừa sai dùng trong phụng vụ, là chuẩn xác cả về mặt thần học lẫn ngôn ngữ. Những tranh luận xung quanh vấn đề này cho thấy không chỉ lối tiếp cận và hội nhập văn hoá bản địa cách thận trọng mà còn là cách “nhìn xa trông rộng” trong việc giới thiệu đức tin Công giáo cho tín hữu địa phương. Đi vào văn hoá để hội nhập và hướng đến lợi ích thiêng liêng của đối tượng phục vụ là cách các thừa sai Dòng Tên đã và đang tiếp tục lao tác trên cánh đồng sứ vụ để Cho Vinh Danh Chúa Hơn.

Phụ Lục

Danh sách các tham dự viên hội nghị tại Ma Cao năm 1645.

Nomina Patrum, qui ex mandato Patris Emanuelis de Azevedo, Visitatoris Provinciae Japonensis et Viceprovinciae Sinensis, interfuere consultationi et fornam Baptismi lingua Annamita prolatam legitimam esse et valida affirmarunt. Anno 1645.

  1. Jo. Cabral Viceprovincialis. Prof. Theol. Praefuit
  2. Alvarus Semedus Viceprovincialis Sinarum
  3. Jo. Monterus, Missionis Sinensis. Prof. Theol.
  4. Vincentius Riberus. Prof. theol.
  5. Franciscus Taveira. Prof. theol.
  6. Antonius Ferreira. Prof. theol.
  7. Franciscus Rangel. Prof. theol.
  8. Thomas Valguarneira. Prof. theol.
  9. Gregorius de Magalhaens. Prof. theol.
  10. Antonius Barbosa, peritus linguae. Prof. theol.
  11. Balthassar Caldeira, peritus linguae. Prof. theol.
  12. Emmanuel Pachecus, peritus linguae. Prof. theol.
  13. Gaspar d’Amaral, quondam Viceprovincialis peritissimus linguae.
  14. Petrus Albertus, peritus linguae.
  15. Franciscus Rivas. Magister in Artibus.
  16. Emmanuel de Miranda. Magister in Artibus.
  17. Joannes Nunius. Magister in Artibus.
  18. Balthassar Citadellius.
  19. Raphael Carvallius.
  20. Michael Polaccus.
  21. Franciscus Montefuscoli.
  22. Andreas Lubellus.
  23. Ascanius Ruidas. – Indiff.
  24. Lucas Correa.
  25. Dominicus Carvallius.
  26. Ambrosius de Abreu.
  27. Joannes Ignatii.
  28. Antonius Constantinus.
  29. Adrianus Pestana.
  30. Carolus de Rocha. – Indiff.
  31. Valentinus Nugueira.
  32. Franciscus Figueira.
  33. Philippus de Marinis.

Ex alia parte:

  1. Alexander Rhodius. Prof. theol. (quondam Superior Missionis Cocincinensis)
  2. Metellus Saccanus. Magister in Artibus.

Thư Mục

Bản văn viết tay

Saccano, Metello, Circa formam Baptismi Annamico idiomate prolatam. Responsum ad P. Sebastianum de Amaya, 1648 (?), Jap.Sin. 80, 73-75. 76-81.

Marini, Philippo, Manoscrito, em que se prova, que a forma do Bauptismo pronunciada em lingua Annamica he verdadeira, 1652, Jap.Sin. 80, 35-40.

Saccano, Metello, Responsio ad Tractatum pro Annamica Baptismi forma tuenda, editum a P. Phillippo Marino Amacai, et ad P. Metellum Saccanum in Cocincinam trasmissum, 1653, phần phụ thêm năm 1656, Jap.Sin. 80, 120-119, f. 118 Sắc lệnh từ Toà Án Dị Giáo năm 1650.

Marini, Philippo, thư gởi Cha Phụ Tá Tỉnh Dòng Bồ Đào Nha, 1655, Jap.Sin. 80, 88-89.

Marini, Philippo, thư gởi Cha G. L. Confalonieri, 1655, Jap.Sin. 80, 96-97.

Sách tham khảo

Đỗ, Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Antôn & Đuốc Sáng, Tp. HCM 2007.

Jacques, Roland – Nguyen, Đang Truc, Các nhà truyen giáo Bo Đào Nha và thoi ky đau cua Giáo hoi Công giáo Viet Nam = Les missionnaires portugais et les débuts de l’Église catholique au Viêt-nam, Reichstett 2004.

Marini, Giovanni Filippo de, Delle missioni de’ Padri della Compagnia di Giesú nella Provincia del Giappone, e particolarmente di quella di Tumkino, Roma 1663.

Monumenta Historica Societatis Iesu. Monumenta Missionum Societatis Iesu. Vol. XXXIV. Missiones Orientales. Monumenta Historica Japoniae I. Textus Catalogorum Japoniae. 1553-1654, Monumenta Historica Soc. Iesu, Roma 1975.

Phan, Peter, Mission and Catechesis: Alexandre Rhodes and Inculturation in Seventeenth-Century Vietnam, New York 1998.

Bài viết

Medina, Ruiz de, Vietnam trong Từ Điển Lịch Sử Dòng Tên (DHCJ), Vol. 4, Roma 2001.

Alberts, Tara, Catholic Written and Oral Cultures in Seventeenth-Century Vietnam trong Journal of Early Modern History s. 16, 2012.

[1] ARSI, Jap.Sin. 80, ff. 35r-40v.

[2] x. Consultatio Macaensis Anno 1645 Habita de Forma Baptismi Annamitici trong Monumenta Missionum Societatis Iesu. Vol. XXXIV. Missiones Orientales. Monumenta Historica Japoniae I. Textus Catalogorum Japoniae. 1553-1654, Monumenta Historica Soc. Iesu, Roma 1975, tr. 1034-1036. Theo Lm. Đỗ Quang Chính, tài liệu này được soạn thảo năm 1654. x. Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Antôn & Đuốc Sáng, Tp. HCM 2007, tr. 95-96.

[3] Nhận định này được sự đồng thuận của nhiều nhà nghiên cứu. x. Võ Long Tê, Lịch Sử Văn Học Công Giáo Việt Nam, Saigon 1965, tr. 122-127; Nguyễn Khắc Xuyên, Chung quanh vấn đề thành lập chữ Quốc ngữ vào năm 1645 trong Văn Hoá Nguyện San, s. 48, 1960, tr. 5-14; Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, tr. 95.

[4] Lm. Filippo de Marini (1608-1682), người Ý, vào Dòng Tên năm 1625. Ngày 20.11.1640 lên đường đi Goa, Ấn Độ. Đầu năm 1641, cùng với 23 Giê-su hữu khác rời Goa đi Ma Cao, sau một thời gian lưu lại Cochin và Siam, đến được Ma Cao năm 1643. Từ 1647-1658 truyền giáo tại Đàng Ngoài. Cuối năm 1658 bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài và trở về Ma Cao. Năm 1659, Marini rời Ma Cao đi Roma tham dự Tổng hội thứ XI của Dòng Tên diễn ra từ 9.5 đến 27.7 năm 1661. Sau Tổng hội, Marini trở lại Ma Cao và từ năm 1671 giữ chức Giám tỉnh Tỉnh dòng Nhật Bản. Cùng năm ấy, Marini tìm cách vào Đàng Trong, dù đến được Đàng Trong nhưng bị phát hiện, bắt giam và sau đó trục xuất, Marini buộc phải trở lại Ma Cao. Năm 1673, cùng với hai Giêsu hữu khác là Emmanuel (?) Ferreyra và François Pimentel, Marini lại đến Đàng Trong, và cũng không may như lần trước, bị bắt giam và sau đó bị trục xuất. Marini trở lại Ma Cao và ở đó cho tới khi qua đời ngày 17.7.1682. Xem thêm Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, tr. 96-97.

[5] Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, tr. 96.

[6] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 35r.

[7] Chú thích của người dịch.

[8] nt.

[9] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 35r.

[10] Xin xem phụ lục.

[11] Những từ tiếng Việt trong bài viết này được ghi lại như đã xuất hiện trong bản văn viết tay.

[12] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 35v.

[13] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 35v.

[14] Kinh Thánh trọn bộ, bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Hc 41, 12. Theo bản Vulgata thì đúng như bản văn viết tay đã trích dẫn, Eccl. 41, 15.

[15] Đúng theo bản văn viết tay, có lẽ các thừa sai viết đúng theo cách nói của vùng miền khi ấy!

[16] “Nhân danh Đức Giê-su Ki-tô người Na-da-rét, anh đứng dậy mà đi!” (Cv 3, 6)

[17] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 36r.

[18] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 37r.

[19] x. Tara Alberts, Catholic Written and Oral Cultures in Seventeenth-Century Vietnam trong Journal of Early Modern History s. 16, 2012, tr. 390. Xem thêm Antonio Cardim, Annua de Tunkim do anno de 1630, 1630, BA, JnA, 49-V-31, ff. 31rv; Brian Ostrowski, The Nôm works of Geronimo Maiorica, S. J. (1589-1656) and their Christology, Luận án Tiến sĩ, Cornell University, 2006, tr. 66.

[20] x. Ruiz de Medina, “Vietnam” trong Từ Điển Lịch Sử Dòng Tên (DHCJ), Vol. 4, tr. 3957. Rất tiếc là các bản in này bị thu hồi và huỷ bỏ cùng năm ấy.

[21] x. Peter Phan, Mission and Catechesis: Alexandre Rhodes and Inculturation in Seventeenth-Century Vietnam, New York 1998, tr. 31.

[22] x. Tara Alberts, Catholic Written and Oral Cultures, tr. 392. Xem thêm Mark J. Alves, Sino-Vietnamese Grammatical Vocabulary and Sociolinguistic Conditions for Borrowing trong Journal of the Southeast Asian Linguistics Society s. 1, 2009, tr. 1-10. Peter Phan, Mission and Catechesis, tr. 29; Roland Jacques, Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics Prior to 1650, Bangkok 2002, tr. 47-48.

[23] x. ARSI, Jap.Sin. 80, f. 37r.

[24] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 37v.

[25] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 38r.

[26] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 38.

[27] Sơ lược về tiểu sử Lm. d’Amaral, xin xem Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, tr. 68-72.

[28] Bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Hc 6, 34.

[29] x. Monumenta Missionum Societatis Iesu, vol. XXXIV, tr. 1034.

[30] ARSI, Jap.Sin. 80, 73r-75v. Tạm dịch tựa đề: Xung quanh công thức rửa tội bằng tiếng Việt. Trả lời cho Lm. Sebastian de Amaya. Lm. S. de Amaya khi ấy đang giữ chức Viện trưởng và Giám Tỉnh. Xem thêm Monumenta Missionum Societatis Iesu, vol. XXXIV, tr. 1058.

[31] ARSI, Jap.Sin. 80, 76r-81v.

[32] ARSI, Jap.Sin. 80, 78r-79r.

[33] x. ARSI, Jap.Sin. 80, 76.

[34] ARSI, Jap.Sin. 80, 76v. Cách viết hiện tại: Đức Chúa Trời sinh ra chín đấng thiên thần là quân quốc Đức Chúa Trời.

[35] x. ARSI, Jap.Sin. 80, 77v.

[36] ARSI, Jap.Sin. 80, 78r-79r. Xem thêm Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, tr. 100-103.

[37] x. Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, tr. 103.

[38] ARSI, Jap.Sin. 80, ff. 86r-87v.

[39] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 86r.

[40] ARSI, Jap.Sin. 80, 102r-119v.

[41] ARSI, Jap.Sin. 80, 118rv.

[42] x. Giáo Luật s. 869.

[43] Cùng thời điểm hội nghị ở Ma Cao, ngày 12.9.1645, Đức Thánh Cha Innocent X ký sắc lệnh đầu tiên kết án một số thực hành tôn giáo được các Giê-su hữu cho phép ở các xứ truyền giáo, đây được coi là phát súng đầu tiên khởi sự cho những tranh cãi liên quan đến nghi lễ Trung Hoa và nghi lễ Malaba. x. Tara Alberts, Catholic Written and Oral Cultures, tr. 392. Xem thêm D. E. Mungello, ed., The Chinese Rites Controversy: Its History and Meaning, Nettetal 1994.

[44] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 88r.

[45] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 88r.

[46] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 96r.

[47] ARSI, Jap.Sin. 80, f. 96r.

[48] ARSI, Jap.Sin. 68, ff. 62r-70v.

[49] ARSI, Jap.Sin. 80, ff. 90r-93v.