Chữ “thời” (“dies”, “day”) trong Tạo đoan kinh

15/10/2025 389 lượt xem

Sấm truyền ca (讖傳歌) của Linh mục Lữ Y Đoan (Louis Đoan, 呂伊端), một sáng tạo độc đáo là chuyển ngữ Cựu ước (Kinh thánh) thành thể thơ lục bát thuần Việt (viết chữ Nôm). Trong đó, sách Sáng thế (Genesis) được đặt tên là Tạo đoan kinh (造端經 [1]).

Xin trích Lời giới thiệu của Đức cha Matthêô Nguyễn Văn Khôi, giám mục Giáo phận Qui Nhơn: “Lữ Y Đoan là một linh mục uyên bác cả về Hán học lẫn Tây học, cả về kiến thức Kinh thánh lẫn học thuật phần đời. Ngài đã đóng góp biết bao tâm huyết lẫn sức lực để hoàn thành tác phẩm trong một hoàn cảnh thật khó khăn. Các linh mục và tu sĩ trẻ ngày nay nên coi ngài như một mẫu gương tuyệt vời trong việc rao giảng Tin mừng bằng con đường văn hóa và văn học, vốn được người Việt Nam quí trọng và yêu thích. Để được như vậy, cần phải trau dồi tiếng Việt và chú tâm nghiên cứu học thuật nước nhà, trong số đó có những kho tàng Hán Nôm rất đáng trân trọng.”

  1. DẪN NHẬP

Xin được mở đầu bằng 8 câu thơ “Vào đề” của Lm Lữ Y Đoan:

Ngày ngày trước mắt chúng sinh,
Chữ đời, chữ đạo phân minh đôi đường.
Xưa nay trong kiếp vô thường,
Thấy điều vân cẩu
[2] mà thương nhơn phàm.
Loài người từ thuở A-dang,
Đua nhau xây dựng “mộng ham làm trời”.
Một pho cổ sấm ra đời,
Chứng minh vạn đại những lời do Thiên.

Tài năng thơ ca trác tuyệt của Lm Lữ Y Đoan là sự thực khi mỗi người trong chúng ta được dịp đọc Tạo đoan kinh (Sáng thế). Ở đây, tôi không lạm bàn về mặt thơ ca, có những nhà nghiên cứu đã phân tích rồi, mà chỉ muốn cảm nghiệm “không khí thơ ca” dẫn nhập vào tâm hồn.

  1. “KHAI SÁNG CÀN KHÔN, TÁC THÀNH VŨ TRỤ”

II.1. Xin được tiếp tục dẫn thơ trong Tạo đoan kinh, với nội dung từ trình thuật sách Sáng thế 1:1-5.

Hằng sinh Thượng-đế đại quyền,
Tự không sáng tạo, phán truyền hoằng khai:
Càn khôn bỗng chúc phôi thai,
Hư hư hàn vũ, dày dày u minh.
Thánh-thần sinh hoá vận trình,
Đột nhiên quang ánh lộ hình khắp nơi.
Ngự khen trong sáng tuyệt vời,
Liền phân lưỡng vực muôn đời đối nhau:
Gọi ngày, dương khí làu làu,
Gọi đêm, âm khí phủ bao mịt mờ.
Hoàng hôn chuyển tiếp minh sơ,
Chu kỳ thứ nhứt, thiên cơ ứng hành.

Trình thuật Sáng thế 1:5, “Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, bóng tối là đêm” – được diễn đạt thành hai câu thơ: Gọi ngày, dương khí làu làu / Gọi đêm, âm khí phủ bao mịt mờ.

Tiếp Sáng thế 1:5, “Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhứt”, Lm Lữ Y Đoan viết thành thơ: Hoàng hôn chuyển tiếp minh sơ / Chu kỳ thứ nhứt, thiên cơ ứng hành.

Vì sao Lm Lữ Y Đoàn không gọi “ngày thứ nhứt”, “ngày thứ nhì”,…, “ngày thứ sáu” mà ngài gọi toàn bộ các công trình sáng tạo của Thiên Chúa theo “chu kỳ thứ nhứt”, “chu kỳ thứ nhì”,…, “chu kỳ thứ sáu” là chu kỳ Thiên Chúa tạo nên con người?

Trước khi góp phần diễn giải cho tỏ tường, xin mời đọc tiếp Tạo đoan kinh.

II.2. Đoạn thơ sau đây trích từ trình thuật Sáng thế 1:14-19

Hành tinh đặt khắp bao la

Kết thành vũ trụ, dung hòa thời gian

Tự căn hành hoả chuyển vần,
Trên trời dưới đất đầy tràn nhiệt quang.
Nhựt qua, nguyệt lại chu toàn,

Ngày đêm hướng dẫn, tháng, năm đều đồng.
Tinh vi thoả mãn hoài mong,
Chu kỳ thứ bốn, chiều hôm lại ngày

Cùng nhau đọc trong trình thuật Sáng thế chương 1:

Ở câu 14 – Thiên Chúa phán: “Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các mùa, ngày, và năm”.

Ở câu 16 – Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao.

Ở câu 19 – Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.

Hai vầng sáng lớn: rọi sáng vào ban ngày, chúng ta đều biết là mặt trời (“nhựt”日); rọi sáng vào ban đêm là mặt trăng (“nguyệt”月), như trong hai câu thơ dẫn trên: Nhựt qua, nguyệt lại chu toàn / Ngày đêm hướng dẫn, tháng, năm đều đồng.

II.2.1. Đến đây, xin cùng nhau chú ý: vào ngày thứ tư, mà Lm Lữ Y Đoan gọi là Chu kỳ thứ bốn, Thiên Chúa tạo ra “hai vầng sáng lớn”: Mặt trời, Mặt trăng, và chính sự chuyển động (quĩ đạo) giữa trái đất so với Mặt trời, quĩ đạo Mặt trăng so với trái đất mới tạo ra cách tính ngày, tháng, năm. Việc định danh gọi “năm”, “ngày”, “tháng” là dựa vào sự có mặt các thiên thể (Mặt trời, Mặt trăng…).

Trước ngày thứ tư (“Chu kỳ thứ bốn”), chưa có Mặt trời, Mặt trăng, lấy đâu ra cách tính để gọi là ngày, trong tháng, trong năm?

II.2.2. Mời đọc lại trình thuật sau: “Thiên Chúa phán: “Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các mùa, ngày, và năm” (Sáng thế 1:14).

Trong bản kinh Latin Vulgata: “Dixit autem Deus: Fiant luminaria in firmamento caeli, et dividant diem ac noctem, et sint in signa et tempora, et dies et annos.”

Bản dịch Việt ngữ (nêu trên) ghi: ngày (…) ngày, không phân định sự khác biệt. Trong khi bản tiếng Latin ghi diem (…) dies, có sự khác biệt. Ở đây, “diem” là “ban ngày” (“noctem” là “ban đêm”), “dies” là “ngày”.

Trong tiếng Việt chúng ta, “ban ngày” + “ban đêm” = ngày; nhưng chúng ta vẫn có lối nói “ngày và đêm”, “ngày” ở đây đã được hiểu mặc định là “ban ngày”. Thành thử trinh thuật Sáng thế 1:14 có thể ghi thêm một chút: “Thiên Chúa phán: “Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ban ngày với ban đêm, để làm dấu chỉ

xác định các mùa, ngày, và năm”.

Trở lại trình thuật Sáng thế 1:5, có thể ghi thêm một chút: “Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ban ngày”, bóng tối là “ban đêm”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhứt”.

Như vậy, “ban ngày” = diem (tiếng Latin), “ngày” = dies (tiếng Latin)

II.2.3. Xin nhắc lại ở mục II.2.1., theo đó ghi nhận rằng: Trước ngày thứ tư, chưa có Mặt trời, Mặt trăng, lấy đâu ra cách tính để gọi là ngày, trong tháng, trong năm? Để từ đó, lưu ý đến cách chuyển ngữ của Lm Lữ Y Đoan là “chu kỳ” (thay vì “ngày”)!

Dù vậy, trong bản kinh Latin Vulgata ghi “dies” (bấy lâu nay vẫn được dịch là “ngày”); vậy, cách chuyển ngữ “chu kỳ” của Lm Lữ Y Đoan có tỏ ra thích hợp? Hay là cách gọi “chu kỳ” của ngài dường như gợi nên suy niệm rất hữu ích, đáng quan tâm…

III. Chữ “THỜI” (“DIES”, “DAY”) trong Tạo đoan kinh

III.1. Dies trong tiếng Latin, chuyển ngữ qua tiếng Anh, là “day”; nhưng không chỉ có nghĩa “day”, mà dies còn mang nghĩa “era”, “period”, “time”, “timespan”, “space of time”, “lifetime” – tùy bối cảnh mà chọn cách dịch cho thích đáng.

Tức chuyển ngữ sang tiếng Việt, dies mang các nghĩa như: “ngày”, “thời gian”, “thời đại”, “thời kỳ”, “giai đoạn”, “quãng đời”, “cuộc đời”.

Ngay trong tiếng Anh, “day” cũng mang một số nghĩa:

  1. a) “Day” là “ngày” – đơn vị thời gian, theo cách tính lịch thông dụng hiện nay “ngày” gồm 24 giờ.
  2. b) “Day” là thời gian giữa lúc mặt trời mọc và mặt trời lặn (the time between sunrise and sunset), “day” ở đây đồng nghĩa “daytime” (ban ngày).
  3. c) “Day” để chỉ một thời kỳ, giai đoạn đặc biệt trong quá khứ; để chỉ một thời đại, kỷ nguyên (a particular period of the past; or an era). Ví dụ: “my student days”, nghĩa là “thời sinh viên của tôi”.
  4. d) “Day” là quãng đời của một người (“the span of someone’s life”). Ví dụ: “she cared for him for the rest of his days”, nghĩa là “cô ấy chăm sóc anh ấy trong suốt quãng đời còn lại”.

III.2. Thành thử trong sách Sáng thế (Genesis) dùng “dies” (bản tiếng Latin),

dùng “day” (bản tiếng Anh), do những danh từ này chất chứa nhiều ý tứ nên trình thuật Kinh Thánh không “bị” hiểu giản lược trong “đơn vị đo thời gian” (“ngày 24 giờ”).

Lm Lữ Y Đoan thay vì dùng “ngày” đã dùng chữ “chu kỳ” (週期), tức là “cycle”, “period” (tương đương với nội hàm của dies, ghi ở III.1).

Có thể nghĩ đến một khái niệm hàm súc, là chữ “thời” (時). “Thời thứ nhứt”, “thời thứ nhì”, …, “thời thứ sáu” trong Sáng thế của Thiên Chúa.

III.3. Cũng cần ghi chú thêm: các bộ sách trong Cựu ước được viết trải dài trong rất nhiều thế kỷ. Thành thử có nhiều Chương ngay trong sách Sáng thế, rồi sách Xuất hành v.v…, danh từ “dies” (tiếng Latin), “day” (tiếng Anh) cần chuyển ngữ sang tiếng Việt là “ngày” (như một đơn vị đo đạc thời gian vật lý).

Cách riêng, đặc biệt ở Chương 1 sách Sáng thế, Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, các loài sinh thể, con người: đây cần được hiểu là thời gian siêu nghiệm (không phải thời gian đo đạc vật lý), cách chuyển ngữ của Lm Lữ Y Đoan “chu kỳ thứ nhứt”, “chu kỳ thứ nhì”… là suy niệm hữu ích, đáng trân trọng (gợi mở một cách chuyển ngữ khác: “thời” – “thời thứ nhứt”, (…), thời thứ sáu, thời thứ bảy).

Dân Do Thái, vào thời xuất hiện sách Xuất hành (Exodus), đã có được bộ lịch để tính ngày, tháng, năm. Sáu thời (chu kỳ) tạo dựng vũ trụ của Thiên Chúa được dân Do Thái biểu tượng thành sáu ngày trong tuần làm việc, để rồi ngày thứ bảy (“sabbath”) được dành toàn thời gian để nghỉ ngơi, thờ phượng như một cách thức biểu tượng hóa về thời (chu kỳ) thứ bảy Thiên Chúa nghỉ ngơi sau sáu thời tạo dựng vũ trụ (ghi lại trong Exodus 20:9-10).

THAY LỜI KẾT

Lm Lữ Y Đoan đã tiên phong, có thể nói như vậy, với sự tự tin thiên phú để chuyển ngữ cách riêng cho Tạo đoan kinh.

Ngài trở thành “một mẫu gương tuyệt vời trong việc rao giảng Tin mừng”.

Tạ ơn Chúa.

[1] “Tạo đoan” 造端: “tạo” là sáng tạo, tạo ra; “đoan” là khởi đầu, đầu mối.

[2] “Vân cẩu” 雲狗: mây và chó, chỉ sự thay đổi mau chóng ở đời. Từ hai câu thơ của Đỗ Phủ, “Thiên thượng phù vân như bạch y, tu du hốt biến vi thương cẩu“ (“Trên trời có đám mây nổi trông như cái áo trắng, phút chốc bỗng biến thành con chó xanh”). Cung oán ngâm khúc: “Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”.

 

* Matthew Nguyễn Chương
Tài liệu tọa đàm Sấm truyền ca (1670) của linh mục Lữ Y Đoan (1608-1678)