ĐI TÌM NƠI LINH MỤC GAGELIN ẨN TRÚ

16/10/2026 55 lượt xem

ĐI TÌM NƠI LINH MỤC GAGELIN ẨN TRÚ

(Bài viết dùng địa danh trước ngày 01.07.2025)

Khi học hỏi về thánh Gagelin, Linh mục tử đạo thuộc giáo phận Qui Nhơn, nguồn sử liệu tiếp cận được có chi tiết chưa thống nhất, chẳng hạn nơi cha ẩn trú khi lệnh cấm đạo thi hành gắt gao trước khi cha trình diện với quan quyền. Trong khả năng hạn hẹp của một người con cháu, người đồng môn linh mục trong đức tin, bài viết này là một cố gắng tìm thêm nguồn sử liệu để có thể dung hòa, làm rõ thêm về nơi trú ẩn của thánh Gagelin.

I. BỐI CẢNH

Trên đường DT 629 từ Bồng Sơn đi An Lão, đến phần đất giáo họ Long Quan,[1] nhớ chuyện ngày xưa trong lịch sử truyền giáo của giáo phận. Thánh Gagelin Kính, một linh mục đã từng để lại dấu ấn đức tin trên vùng đất Long Quan này.

Sau khi Đức cha Taberd Từ được tấn phong Giám mục tại Thái Lan (10.5.1830), Đức cha trở về Lái Thiêu và bổ nhiệm cha Gagelin làm Bề trên địa phận Đàng Trong và giao cho cha phụ trách địa bàn mục vụ gồm các tỉnh ở miền Trung: Phú Yên, Bình Định và Quảng Ngãi (giáo phận Qui Nhơn ngày nay).[2]

Ngày 06.01.1833, vua Minh Mạng ban hành Sắc chỉ cấm đạo triệt để.

Trong khi cha Gagelin thi hành sứ vụ tại Bình Định, một hôm được một giáo dân mật báo cho cha biết biết nguồn tin được tiết lộ từ một vị quan, sắp có cuộc truy bắt các Linh mục Tây phương trong miền này theo Sắc chỉ Vua đã ban hành.

Đứng trước tình thế quá ngặt nghèo như thế, có người đưa ra ý kiến khuyên cha nên trở về quê hương ngài một thời gian, đợi tới khi tình thế thay đổi thì cha hãy trở lại. Nhưng cha không đồng tình với ý kiến đó, cha nói: “Một công dân có nhiệm vụ thi hành nghĩa vụ quân sự, huống chi tôi được trao chức vụ lãnh đạo đoàn chiên, làm sao tôi có thể thoái thác nhiệm vụ của tôi được? ”. Bất chấp những khó khăn trước mắt, thậm chí đe dọa đến tính mạng, cha Gagelin quyết định khăn gói lên miền núi (Pay Sauvages) phía tây bắc tỉnh Bình Định, phần đất của các bộ tộc thiểu số để ẩn trú. [3]

1. Thử đi tìm nơi ẩn trú của cha Gagelin:

a. Theo Mission de Quinhon: Cha Gagelin ẩn trú tại Long Quan, một giáo họ nhỏ.[4] Theo DT 629 ngày nay, từ lị sở của phủ đến Long Quan khoảng 4,8 km.

b. Theo sử liệu nhà MEP. (Mission Étrangères de Paris):

– Cha Gagelin ẩn trú tại Phuong-hoa (Phú Hòa).[5]

Trong địa bạ năm 1839 Phú Hòa còn gọi là Phú Hữu.[6] Trong địa bạ, địa giới Phú Hòa được xác định: Tổng Hạ, huyện Bồng Sơn, Đông giáp Hà Tây và sông, Tây giáp núi, Nam giáp núi và sông, Bắc giáp Kim Sơn và sông.[7] Trên Bản đồ Bình Định năm 1900 có hai vị trí Phú Hữu, Phú hữu 325 và Phú Hữu. Đối chiếu bản đồ Bình Định 1900 và Địa bạ, Phú Hữu 325 là vị trí Phú Hòa trong địa bạ năm 1839 (Bắc giáp Kim Sơn và sông), vị trí đó trên bản đồ Bình Định hiện nay là Phú Ninh thuộc xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân.[8]

So sánh hai sử liệu (a và b) nói về nơi ẩn trú của cha Gagelin như nêu trên: Nếu ẩn trú tại Long Quan thì quá gần với lị sở phủ. Nếu tại Phú Hòa,  thử tìm hiểu vị trí này.

Trong lịch sử truyền giáo, cuối thế kỷ 17 (1683) bên bờ sông An Lão có giáo họ Bến Mít, còn gọi là Tân An. Nơi đây cha Giuse Trang, cha Ausiès de Fonbonne đã từng đặt chân đến.[9] Đối chiếu các tài liệu địa bạ và bản đồ xưa – nay: Bến Mít (Tân An) ngày nay là địa bàn thôn Tân Sơn và thôn Tân Xuân, xã Ân Hảo Tây, huyện Hoài Ân.[10]

Ngày nay từ trụ sở khối Liêm Bình (lị sở phủ ngày xưa):

– Theo DT 629 đến vùng Tân Sơn, Tân Xuân khoảng gần 20 km;

– Theo DT 630 đến Phú Ninh khoảng gần 30 km.

Để thuận lợi cho việc cai quản cư dân bản địa và khai thác thu thuế, các chúa Nguyễn và đặc biệt là triều Nguyễn đã thiết lập hệ thống các nguồn tại những địa bàn thuận lợi để thu thuế sản phẩm từ miền núi đưa xuống đồng bằng. Trong số các nguồn này, có nguồn Trà Bình cách huyện Bồng Sơn hơn 70 dặm lệch về phía Tây Bắc, thủ sở ở địa phận thôn Hưng Nhân, có các đồn Chí Đốc, Chí Chính, Trường Vân do dân canh giữ. Nguồn này trước là Trà Đinh, đời Minh Mạng đổi là Trà Bình.[11] Đây là nguồn bên bờ sông An Lão (Theo Địa bạ, địa giới thôn Hưng Nhân/Nhơn: Đông giáp thôn Thanh Sơn, thôn Hưng Nhượng và sông; Tây giáp thôn Hưng Nhượng, thôn An Lão và sông; Nam giáp thôn An Lão; Bắc giáp sông và núi). Vì thế, đây là vùng không đủ “an toàn” để cha Gagelin chọn nơi này để ẩn trú.

Phú Hòa (Phú Hữu 325) lúc bấy giờ là vị trí núi rừng hẻo lánh hơn, hiểm trở hơn nhưng có thể sống đạm bạc qua ngày nhờ thức ăn dễ kiếm từ sông suối, núi rừng. Thiển nghĩ, đó là một vị trí phù hợp mà cha Gagelin và vài giáo dân đi theo cha chọn để vừa thực hiện được tâm nguyện của vị chủ chăn muốn ở lại, sống chết với đoàn chiên, vừa đủ kín đáo để vượt tầm kiểm soát của vua quan, vừa đủ thuận lợi để tiếp cận với dân tộc Bana trên miền núi và nắm thông tin của đoàn chiên. Lại nữa, nếu cần lên miền các bộ tộc ở Tây Nguyên, từ Phú Hòa (Phú Hữu 325 – Phú Ninh ngày nay) đến Nghĩa Điền, qua dốc Ông Thọ (phía bên Nghĩa Điền) lên núi qua đèo Đồng Lau, xuống dốc Đót đến làng Hà Ri (xã Vĩnh Hiệp, huyện Vĩnh Thạnh), từ Hà Ri đến Vĩnh Thịnh,[12] nơi người Việt từ miền xuôi, ngược dòng sông Kôn, tập kết hàng hóa để qua Định Quang,[13] đến Trạm Gò (An Sơn – An Khê ngày nay),[14] từ Trạm Gò đến buôn bán với các bộ tộc miền núi (Đây là con đường Thầy Sáu Do mở đường truyền giáo lên Tây Nguyên).

Ngoài ra, từ Nghĩa Điền (Ngãi Điền) có đường mòn đi Kon Tum đi ngã Nghĩa Nhơn hoặc ngã Nhơn Sơn, hai ngã đều giáp nhau tại làng K11 (thôn 2) Bok Tới. Từ K11, vượt dốc Bà Bơi đến Vực Bà thuộc sông Kôn, xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh, về hướng Tây Bắc đến Sơn Lang (huyện KBang), đi về các bộ tộc ở Kon Tum. Theo đường này, làng đầu tiên được tiếp cận là làng Kon Phar.[15] Đây là con đường từ Đồng Hâu[16] đi Kon Tum, ngắn hơn, thuận lợi hơn con đường qua Định Quang. Qua con đường này, Thầy Thám, em Thầy Sáu Do, đưa hàng hóa cần thiết từ Đồng Hâu tiếp tế cho thầy Sáu Do mở đạo ở Kon Tum. Do đó, Phú Hòa (Phú Hữu 325 – Phú Ninh ngày nay) lúc bấy giờ là nơi thích hợp cho cha Gagelin ẩn trú.

2. Pháp đình Long Quan, nơi cha Gagelin trình diện

Trong khi lệnh bắt đạo được thi hành, một số giáo dân không đủ sức chịu đựng với những cực hình nên phải từ bỏ đức tin. Sự việc đang gia tăng trong đoàn chiên được giao phó cho cha Gagelin. Chứng kiến, nghe tin ​​những cuộc từ bỏ đức tin của đoàn chiên, cha đau xót, phân định, liệu có phải tốt hơn nếu cha hiến thân chịu chết, hy vọng bằng cách này sẽ không làm tổn hại đến đàn chiên của mình. Cha viết những suy nghĩ này trình bày cho Giám mục của mình và xin phép hy sinh mạng sống mình nếu Giám mục xác định đó là cách tốt nhất. Cha cũng dự đoán, trong lúc “cơm cao gạo kém”- thiếu Linh mục chăm sóc đoàn chiên trong cánh đồng truyền giáo, có thể điều tồi nhất xảy ra đối với cha là Giám mục có thể lệnh cho cha tìm đường đến Ma Cao hoặc Singapore để ẩn tránh cuộc bách hại.[17]

Khi cha nhận được ý kiến của Đức cha Taberd, Đức cha cho phép cha tùy ý chọn lựa. Cha quyết định đón nhận phúc tử đạo. Cha đến Pháp đình trình diện quan Huyện Thừa Bồng Sơn. Cả hai sử liệu của M.E.P : MOUSSAY et APPAVOU – sđd. và Bulletin des missions étrangères, Le bienheureux Gagelin, Novembre Année 1933, Page 811 – 822, đều ghi cha trình diện quan Huyện Thừa Bồng Sơn “sous-préfet du Bong Son”.[18] Riêng Bulletin des Missions Étrangères cho biết thêm chi tiết cha trình diện tại Pháp đình ” …se présenter au prétoire du sous-préfet du Bong son“.

Lúc bấy giờ pháp đình huyện Bồng Sơn đặt tại Long Quang.[19] Theo địa bạ và phép quân điền năm 1839, Long Quang thuộc Tổng Trung (tên cũ là Ô Long Thượng), huyện Bồng Sơn.

Hiện nay Long Quang thuộc xã Ân Mỹ huyện Hoài Ân. Trụ sở UBND xã Ân Mỹ là vị trí Pháp đình Bồng Sơn ngày xưa.

Khi cha Gagelin trình diện với quan Huyện Thừa Bồng Sơn tại pháp đình Long Quang. Viên quan ấy rất vui mừng với sự việc này vì ông sẽ được trọng thưởng. Do đó ông đã giữ cha Gagelin tại pháp đình trong 15 ngày, sau đó ông giải cha đến trình diện quan Tri phủ Hoài Nhơn.[20] Viên quan Huyện Thừa không viết trong báo cáo của mình là cha Gagelin tự nộp mình cho ông. Trái lại, ông viết trong báo cáo, ông đã bắt được cha Gagelin. Theo lệnh của vua Minh Mạng, cha được giải về Huế cùng với hai chú giúp của cha.[21] Trên đường áp giải, khi đến Quảng Nam,[22] hai chú giúp của cha tẩu thoát nên cha phải mang gông từ Đà Nẵng về tới Huế.[23] Cha chịu tử đạo tại pháp trường Bãi Dâu, Huế, ngày 17.10.1833.

Dù các sử liệu có nói gì đi nữa, giáo họ Long Quan vẫn là nơi lưu dấu đức tin của một Linh mục nghĩa khí, nghèo khó, thương dân, sống chết với dân và sống chết vì dân.

Nguyên giáo họ Long Quan (Long Quơn) thuộc giáo xứ Đồng Dài.[24] Trong chiến tranh giáo dân di cư. Khi hòa bình vãn hồi, nơi định cư đã ổn định nên hầu hết bà con không trở về. Nay giáo họ Long Quan thuộc giáo xứ Gia Chiểu. Hiện nay (2021) giáo họ chỉ có 06 giáo dân trong 02 gia đình. Không có nhà nguyện.

Hiện nay tại phòng truyền thống của giáo phận có lưu giữ cây thánh giá của giáo họ Long Quan dùng gẫm đàng, đi chôn người chết…, một bảo bối đức tin quý giá của giáo họ Long Quan. Thánh giá này do ông Phaolô Nguyễn Nay, biện họ Long Quan lưu giữ. Ông thấy thánh giá cũ kỹ nên cho phun PU như ta hiện thấy. Ông giao cho người cháu gọi ông bằng bác ruột, ở giáo họ Trung Yên, người cháu trao lại cho phòng truyền thống vào năm 2017.

A rất thánh giá,

Chúng con kính mừng cây thánh giá, là cây đã chuộc muôn dân đặng rỗi, cho kẻ có phước đặng phần vui mừng, cho kẻ có tội đặng lòng trông cậy; cho kẻ yếu đuối đặng nhờ sức mạnh…

II. ĐƯỜNG ĐẾN CHỨNG NHÂN TỬ ĐẠO

(Viết theo Bulletin des Missions Étrangères, Le Bienheureux Gagelin, No.143, Novembre 1933,  Page  810-817).

Trong tiến trình điều tra chứng minh cha Gagelin là một chứng nhân tử đạo, tất cả những người đã một lần gặp cha đều nói rằng: “Cha rất hiền từ, đạo đức, khó nghèo, khổ hạnh và chính trực, không ai có thể trách cha được điều gì”.

1. Say mê Chúa Giêsu

Những ngày tháng dùi mài kinh sử ở Chủng viện, tiếng Chúa thôi thúc thầy quyết định đi truyền giáo. Lúc bấy giờ nói đến truyền giáo là chấp nhận khổ ải, chấp nhận bỏ mình ở miền đất xa lạ. Thầy về nhà thủ thỉ bày tỏ cho mẹ biết ý định của mình. Trước tình cảnh mẹ con, nhất là người con trai út, mồ côi cha từ khi mới lên bốn, bao nhiêu tình cảm được mẹ dành cho con, bà cảm thấy hụt hẩng, khóc lóc khuyên con từ bỏ ý định đi xa, đừng để mẹ ở nhà một mình. Nước mắt mẹ như hai dòng suối tuôn chảy. Thầy Gagelin can đảm thưa với mẹ: “Con rất kính trọng, rất yêu quý mẹ, nhưng nay Chúa gọi con đi giảng đạo, lẽ nào mẹ dám can ngăn thánh ý Chúa ?”. Nghe đức tin của con trong sáng, dõng dạc như thế, nước mắt của mẹ chảy ngược vào lòng, tình mẫu tử thiêng liêng cao quý nhường chỗ chiến thắng cho Đức tin. Để có được cảm nghiệm về Chúa, để có được đức tin như của hai mẹ con thầy Gagelin, đức tin ấy, cảm nghiệm ấy phải được nuôi dưỡng, tài bồi, chắt chiu từ những giờ thờ phượng trong môi trường gia đình, môi trường cộng đoàn, môi trường tu viện…

Nếu không có một cảm nghiệm về Chúa thì làm sao đức tin có thể thắng được tình mẫu tử của mẹ con thánh Gagelin ?

Trong tù ngục, cha Jaccard Phan biết tin và báo cho cha Gagelin biết ngày cha Gagelin lãnh triều thiên tử đạo đã gần kề. Cha bộc bạch tâm tình của mình trong thư viết cho cha Phan:

“Kính thưa cha  và các bạn đồng nghiệp rất thân mến,

Tin mà cha cho tôi biết là tôi không thể thoát án tử đã đem đến cho tôi niềm vui tận đáy lòng. Không, tôi không ngại nói lên điều nầy là chưa bao giờ tôi có được niềm vui như thế. Các quan chức sẽ không bao giờ hiểu được điều nầy. Ân huệ mà tôi không xứng đáng là điều mà tôi ước ao từ thời thơ ấu của tôi, đặc biệt mỗi lần tôi nâng cao Máu châu báu khi cử hành Thánh Lễ. Không bao lâu nữa, tôi sẽ ra đứng trước vị thẩm phán của tôi, để phơi bày mọi tội lỗi của tôi. Tôi run sợ trước sự phán xét  công minh của Ngài. Niềm hy vọng phục sinh vinh quang và hạnh phúc đời đời mà tôi được hưởng nhờ từ lòng thương xót tràn đầy của Ngài đã an ủi tôi. Tôi xin mọi người tha thứ cho tôi vì những điều xúc phạm tôi đã gây ra. Xin cha vui lòng trình lại cho Đức Ðại Diện Tông Tòa, người mà tôi hằng tôn trọng và chân thành yêu mến,  cùng các anh em đồng nghiệp khác của chúng ta, những người mà tôi luôn mang theo trong trái tim tôi. Tôi nhờ lời cầu nguyện của họ, cũng như của các linh mục bản xứ, các tu sĩ và những tâm hồn thánh thiện. Xin cha vui lòng trình với quý cha Giám đốc Chủng viện Truyền giáo Hải ngoại, với cha Lombard, thừa sai ở Besançon, người cha thân yêu của tôi trong Chúa Giêsu Kitô, và đôi lời đến thân quyến của tôi. Tôi sẽ không quên họ ở trên trời, nơi tất cả chúng ta sẽ được sum họp với nhau.

Tôi có một số đồ dùng để ở Phú Yên, ở Qui Nhơn và ở Quảng Ngãi, tùy nghi quý cha phụ trách miền truyền giáo sử dụng. Ngước nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh, đủ an ủi tôi về mọi điều đau khổ và cả cái chết nữa. Uớc vọng của tôi là sớm được thoát khỏi thân xác tội lỗi này, để kết hợp cùng Chúa Giêsu trên nơi vĩnh phúc. Tôi muốn thành tro bụi để kết hợp với Chúa Giêsu.

Lần cuối cùng, những điều tôi đã nói với cha cũng như với cha Odorico, không còn gì hơn nữa.”

Từ nền tảng say mê Chúa Giêsu, cha Gagelin yêu mến những gì thuộc về Chúa Giêsu.

2. Yêu chuộng sự nghèo khó

Đối diện với nỗi khổ cực tại xứ truyền giáo, ngài viết như sau:

– “Mỗi ngày chúng tôi chỉ có cơm và nước, như thế quí cha hiểu được rằng làm thừa sai rất khổ cực. Có lẽ các cha khuyên tôi phải hãm mình, đúng vậy, nhưng thừa sai còn cần sức khỏe để làm việc nữa”.

– “Những thiếu thốn, những cực nhọc đủ thứ đến với chúng tôi, nhưng tôi dám khẳng định rằng: tôi được hạnh phúc trong túp lều tranh của tôi hơn vua nước Pháp ở trong hoàng cung của ngài”. (Thư gởi về quê nhà năm 1823).

3. Gách vác trách nhiệm

Ngày 6 tháng 01 năm 1833 vua Minh Mạng ban hành thêm một chiếu chỉ cấm đạo gay gắt hơn. Công cuộc truyền giáo mỗi ngày bị siết chặt, thêm khó khăn, nhất là mạng sống các thừa sai ngoại quốc bị đe dọa. Đứng trước thời thế quá ngặt nghèo như thế, có người đưa ra ý kiến khuyên cha nên trở về quê hương ngài một thời gian, đợi tới khi tình thế thay đổi thì cha hãy trở lại. Nhưng cha không đồng tình với ý kiến đó, cha nói: “Một công dân có nhiệm vụ thi hành nghĩa vụ quân sự, huống chi tôi được trao chức vụ lãnh đạo đoàn chiên, làm sao tôi có thể thoái thác nhiệm vụ của tôi được? ”. Bất chấp những khó khăn trước mắt, thậm chí đe dọa đến tính mạng, cha vẫn tiếp tục hoạt động mục vụ trong vùng Bình Định và Phú Yên. Vì sự sống đoàn chiên, cha sẳn sàng nộp mình và chịu chết.

4. Chỉ vì Tin Mừng

Trong thời gian bị tập trung tại Huế, Vua Minh Mạng muốn cảm hóa các cha, Vua hứa ban chức quan cho các cha cùng nhiều bổng lộc khác. Nhưng tất cả các cha đều cúi đầu cảm tạ và từ chối mọi bổng lộc, chức quyền. Việc nầy, được cha Gagelin bộc bạch trong một thư gửi về cho bạn hữu ở Pháp: “Tôi đã nói dứt khoát với quan lớn do vua sai đến ban ân huệ cho chúng tôi. Tôi cho ông biết rõ mục đích chúng tôi tới đây làm gì và chức linh mục cao trọng hơn chức quan như thế nào. Tôi cũng nói rõ chúng tôi đã từ bỏ gia đình, quê hương và tất cả những lợi lộc trần gian để chỉ truyền giảng Tin Mừng, thì không dễ gì chúng tôi lại từ bỏ nhiệm vụ này. Tuy nhiên những công việc nào có thể dung hoà với nhiệm vụ của chúng tôi thì chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ nhà vua”.

IV.THÁNH GAGELIN TRONG LÒNG GIÁO PHẬN QUI NHƠN

Hiện nay đâu có ai bị bắt bớ nộp cho quan quyền để bắt mình phải bỏ Chúa. Nhưng xác thịt bắt bớ giao cho ông quan bộ hưởng thụ, giao cho ông quan bộ nuông chiều những quyến rủ của thế gian… để dần dần những quan bộ ấy làm cho mình không tha thiết gì đến Chúa, đến việc của Chúa. Và tiếng nói tình nghĩa của Thánh Thần sẽ bị lấn át, thậm chí sẽ không được lắng nghe.

Thật vậy, đón nhận Đức Giêsu Kitô không chỉ bằng tâm hồn hay chỉ bằng tri thức, mà là cả hai. Đó là tác động của Thánh Thần. Nếu chỉ bằng lý trí khôn ngoan nhưng bị giới hạn của con người thì những kế hoạch, những hoạt động có thể đi vào ngõ cụt hoặc trở thành những cuộc “giải trí tôn giáo” không thể dẫn đến ơn cứu rỗi. Nếu tiếng của Thánh Thần không được lắng nghe thì những tiêu chí như hoành tráng, náo nhiệt, tưng bừng, rộn ràng … sẽ thay thế cho chỗ đứng của Thiên Chúa trong mọi hoạt động mục vụ. Đức Bênêđictô XVI đã nói: “Nếu Thiên Chúa không còn quan trọng, thì tiêu chí được lập ra là điều quan trọng. Nếu con người đặt Thiên Chúa sang một bên, thì con người sẽ mang lấy kết cục là “một kẻ nô lệ cho những thế lực vật chất, và do đó chống lại chính căn tính của mình”. (vietcatholic 06.10.2017/ Catholic Herald – Benedict XVI: ‘Obscuring’ God from the liturgy has led to crisis in the Church) Và đây chính là nguyên do gây nên những khủng hoảng, những trì trệ trong Giáo hội, trong gia đình, trong dòng tu, trong cuộc sống mỗi người.

Sống với Chúa, làm việc cho Chúa, làm việc vì dân Chúa không phải là sự ngẫu hứng với “chút tình nữa nắng” “ngon ở dỡ đi”, mà là cái tình vẫn kiên định từ đầu đến cuối, vẫn trong sáng, vẫn tròn như trăng mười sáu! . Nếu là ngẫu hứng thì làm sao có cha Thánh Gagelin ngày nay. Nếu là ngẫu hứng thì làm sao thầy Gagelin dám bước chân lên đất Việt tại  cửa Thuận An ngay lúc Vua Minh Mạng bắt đạo gắt gao. Nếu là ngẫu hứng thì làm sao khi có cơ hội trốn thoát khỏi lệnh truy nã của triều đình, mà cha Gagelin cứ bám với đoàn chiên, cho đến khi thấy đoàn chiên bị hành hạ quá đau đớn, cha mới chịu ra nộp mình. Nếu là ngẫu hứng thì làm sao Đức cha Cuênot Thể vẫn kiên trì tìm đường đem Tin Mừng lên Tây Nguyên sau nhiều lần tốn kém nhưng thất bại. Nếu là ngẫu hứng thì làm sao thầy Phanxicô Xaviê Nguyễn Do, một phụ giáo ở Đại chủng viện Pinăng, một “bồ” chữ, dám làm một người đầy tớ cho một người lái buôn để tìm đường mở đạo lên Tây Nguyên. Nếu là ngẫu hứng thì làm sao ông Biện Bố, một giáo dân ở Tân Thuộc, Đồng Phó,[25] dám dấn thân làm người dẫn đường cho những chuyến gánh hàng tiếp tế cho đoàn truyền giáo ở Kon Tum, cho đến khi ông bị một con cọp kết liễu đời ông.?

Trong những ngày tháng quyết liệt nhất của cuộc đời thừa sai, cha Gagelin đã sống chết với đoàn chiên được ký thác cho mình tại Phú Yên, Bình Định và Quảng Ngãi, thuộc giáo phận Qui Nhơn. Cũng vì sự sống còn của đoàn chiên, cha đã hy sinh mạng sống của mình. Cha được Đức Giáo hoàng Lêô XIII tôn phong Chân phước tử đạo ngày 27 tháng 5 năm 1900. Cảm mến gương đức tin, tinh thần trách nhiệm, sự thánh thiện và sự thông thái của Chân phước Gagelin, đặc biệt là “cái duyên” đào tạo nhân sự của Chân phước Gagelin, Đức cha Grangeon Mẫn đã quyết định chọn tên cho ngôi trường có tính quy mô đầu tiên trong giáo phận là trường Gagelin.

Trường Gagelin được chính thức thành lập ngày 08.9.1920, được giao cho các Sư huynh dòng Lasan. Trường Gagelin đầu tiên được khởi công xây dựng vào ngày 28.01.1921 tại thôn Kim Châu, thị trấn Bình Định, huyện An Nhơn (nay là phường Bình Định, thị xã An Nhơn). Vừa xây dựng, vừa chiêu sinh, ngày 03.10.1921 trường được khai giảng với  khoảng 50 học sinh; những tháng sau đó số học sinh có gia tăng chút ít. Đến cuối niên khóa 1921-1922, sĩ số đạt đến 85 em. Năm 1923, việc xây dựng trường mới hoàn thành, Đức cha Grangeon, Giám mục giáo phận đã chủ tọa buổi lễ làm phép nhà.

Năm 1932, Trường Gagelin  tại Kim Châu được các Sư huynh Lasan chuyển nhượng cho dòng Thánh Giuse. Trường Gagelin Kim Châu được chuyển về thị xã Qui Nhơn, năm đầu tiên ở Qui Nhơn, trường Gagelin Qui Nhơn có 200 học sinh. Trường hoạt động cho đến năm 1946, do hoàn cảnh chiến tranh, ngày 16.12.1946 Hội Đồng Cố Vấn Trung Ương của dòng Lasan quyết định ‘tạm thời’ đóng cửa. Như thế tên gọi  trường Gagelin Qui Nhơn không còn nữa. Trải qua dòng lịch sử, khu đất này vẫn được sử dụng vào việc giáo dục, sau trường Gagelin là trường Trinh Vương, nay là trường Cao Đẳng Y Tế 132 Trần Hưng Đạo, phường Hải Cảng, thành phố Quy Nhơn.

Lm. Gioan Võ Đình Đệ

Ảnh bìa: irfa.paris

——————————————————————————

[1] Sử liệu Giáo phận Qui Nhơn viết giáo họ Long Quan, ngày xưa gọi là giáo họ Long Quơn. Hiện nay hành chánh viết thôn Long Quang.

[2] MOUSSAY et APPAVOU, Répertoire des Membres De La Société Des Mission Étrangères 1659-2004,  Archives des Mission Étrangères, Paris 2004, trang 96.

[3] Bulletin des Missions Étrangères, Le Bienheureux Gagelin, Novembre Année  1933, Page 814.

[4] Mission de Quinhon, Compte-Rendu et Etat de la Mission, Imp. Quinhon 1941, trang 19.

[5] MOUSSAY et APPAVOU, Sđd, trang 96.

[6] NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU, Nghiên Cứu Địa Bạ Triều Nguyễn Bình Định, nxb, Quyển II, Tp. HCM 1996, trang 932.

[7] NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU, sđd, trang 654.

[8] UBND TỈNH BÌNH ĐỊNH, Địa chí Bình Định, Thiên nhiên, Dân cư và Hành Chánh, 2005, trang 300 tt:

– Năm 1890, châu Hoài Ân được thành lập gồm phần đất phía tây huyện Bồng Sơn (gồm cả phần đất huyện An Lão ngày nay).

– Năm 1899, huyện Hoài Ân được thành lập gồm phần đất châu Hoài Ân.

[9] ADRIEN LAUNAY, Histoire de la Mission de Co chinchine, Paris 2000, T.I, trang 308-309.

[10] NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU, sđd, trang 934.

[11] QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, Viện Sử học, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, nxb. Thận Hóa, Huế 2006, tr. 45.

[12] Phần đất bên tả ngạn sông Kôn thuộc Vĩnh Thịnh, nơi thuở xưa tập kết hàng từ miền xuôi, đã được tách ra để thành lập xã Vĩnh Hòa vào năm 2005.

[13] Vĩnh Thịnh ở bên tả ngạn Sông Kôn, thuở xưa là nơi tập kết hàng hóa; Định Quang bên hữu ngạn, là cửa ngõ đi lên miền cao. Dân gian vẫn còn lưu truyền: “Vĩnh Thịnh là Vĩnh Thịnh tiên, Đi chợ năm tiền cũng có kẻ bưng”; Trong khi đó: “Định Quang là Định Quang còi, Con cua cái ốc được coi như vàng”. Ngày nay Định Quang là cửa ngõ đi vào trung tâm huyện Vĩnh Thạnh.

[14] Lúc bấy giờ, Trạm Gò là làng cuối cùng của người Kinh giáp với các làng dân tộc vùng cao. Ngày nay thuộc xã Cửu An, An Khê.

[15] P.DOURISBOURE, Tòa Giám Mục Kon Tum, Dân Làng Hồ, Nxb. Đà Nẵng, 2008, trang 27.

[16] Đồng Hâu, quê hương Sáu Do, một giáo họ lâu đời. Năm 1726, Đức cha Phanxicô Perez, Giám mục Tông tòa Đàng Trong (1684-1728) đã lập một nhà thờ kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae tại Đồng Hâu. Nay thuộc giáo xứ Gia Chiểu. Về hành chánh, nay Đồng Hâu thuộc thôn Tân Thạnh, Ân Tường Tây, Hoài Ân (trước 01.7.2025).

[17] Bulletin des Missions Étrangères, Le Bienheureux Gagelin, No.143, Novembre 1933, trang 814-815.

[18] Huyện Thừa, một chức quan Triều Nguyễn làm việc ở huyện, thừa hành công việc mà Tri huyện giao.

[19] Lúc bấy giờ Lị Sở Phủ Hoài Nhơn ở thôn Liêm Bình (Theo địa bạ, sđd, trang 626, giới cận thôn Liêm Bình: Đông và Bắc giáp Trung An/Yên, Tây giáp Thiết Đĩnh/Đính, Nam giáp Phụ Đức. Trước lỵ sở huyện Bồng Sơn ở thôn Xuân Hội huyện Phù Cát. Năm Tự Đức 18 (1865) dời đến chỗ hiện nay (thuộc Thiết Đính, xem thêm bản đồ năm 1926. Theo địa bạ, sđd, trang 633, giới cận thôn Thiết đính: Đông giáp Trung An và Liêm Bình; Tây giáp Long Mỹ và núi; Nam giáp Long Mỹ và Trung Lương; Bắc giáp Lệ Đức) và đổi làm lị sở của phủ. (Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 3. Viện Sử Học, Thuận Hóa, Huế 2006, trang 16). Theo DT 629, từ UBND xã Ân Mỹ (pháp đình Long Quan ngày xưa) đến trụ sở khối Liêm Bình ngày nay, khoảng hơn 05km.

[20] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, ĐNNTC, Viện Sử học, Thuận Hóa 2006, tập 3, trang 10: Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) chia địa phận huyện Phù Li làm 2 huyện Phù Mĩ và Phù Cát, bỏ tên huyện Phù Li, cho phủ kiêm lí huyện Phù Cát (không đặt tri huyện mà tri phủ kiêm quản), thống hạt huyện Phù Mĩ và Bồng Sơn (có tri huyện, nhưng ở dưới quyền tri phủ thống quản). Năm Tự Đức thứ 8 (1855) đổi lại, phủ kiêm lí huyện Bồng Sơn và thống hạt huyện Phù Mĩ và Phù Cát.

[21] Chi tiết này cho thấy khi cha Gagelin ẩn trú, có giáo dân theo giúp ngài.

[22] Lúc bấy giờ con đường cái quan qua Quảng Nam được chia làm 07 trạm, lấy chữ Nam làm đầu: Nam Chân – dưới núi Chân Sảng, nơi nhà Nguyễn xây đồn Chân Sảng ở vị trí “tiền tiêu” vùng Hải Vân quan; Nam Ô – gần cửa sông Cu Đê, thuộc làng Hóa Ổ (nay thuộc phường Hòa Hiệp, Liên Chiểu); Nam Giản – thuộc làng Miếu Bông (nay là xã Hòa Phước, Hòa Vang); Nam Phước (nay thuộc thị trấn Nam Phước, Duy Xuyên); Nam Ngọc (nay thuộc Hà Lam, Thăng Bình); Nam Kỳ (nay thuộc Tam Kỳ) và Nam Vân (nay thuộc vùng Chu Lai – Kỳ Hà giáp với tỉnh Quảng Ngãi).

[23] Xem L.E. LOUVET, La Cochinchine Religieuse, Tome II, Paris 1885, trang 63.

[24] Mission de Quinhon, Compte-Rendu et Etat de la Mission, Imp. Quinhon 1941, trang 19.

[25] Mémorial Mission de Qui Nhơn, số tháng 11/1929, trang 75. Xưa gọi là Bến Thuộc, nay là giáo họ Tân Thuộc, còn nền nhà thờ bên hữu ngạn sông Kôn thuộc thôn Hòa Thuận, xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn. Hòa Thuận được tách từ thôn Tiên Thuận khi cắt phần đất của xã Tây Thuận để thành lập xã Vĩnh Hòa, huyện Vĩnh Thạnh theo Nghị định  143/2005/NĐ-CP, ngày 15.11.2005.