Kẻ hành khất

27/11/2025 257 lượt xem

– Ông thầy mà cứ như  kẻ ăn xin ấy nhỉ?

– Thì cũng chẳng khác là bao –  Anh vừa đáp vừa cười hì hì.

Chẳng biết từ bao giờ cái mác “kẻ ăn xin” lại được gắn lên cho đứa có vẻ ngoài thư sinh như anh. Có lẽ từ cái hồi mới đến vùng đất Hương Của này, anh cứ đi xin hết người này người khác dạy tiếng dân tộc Vân Kiều, lại đi ăn nhờ ở đậu nhà mấy người dân trong bản. Dần dà cứ thế làm thân rồi lại quen. Giờ bà con không gọi anh cảm thấy dường như có chút mất mát. Thế mới hay!

Anh là con trai độc nhất trong gia đình có tận ba cô chị xinh đẹp. Ba mẹ đều là cựu tu sinh. Vì thế mà anh luôn ở trong cái tình cảnh người ta vẫn thường hay nói “hy sinh đời bố, củng cố đời con”. Lại càng trớ trêu thay khi cả ba cô chị đều chọn lựa đời tu nhưng không thành. Thế là tất cả mọi kì vọng đổ dồn lên đôi vai ấy. Những năm tháng còn trên học đường, người con trai bé nhỏ ấy vẫn luôn mang cái mác “Đức Sơn thầy tu”. Thật nực cười! Chẳng ai muốn mang cái mác ấy cả. Ba mẹ có bao giờ cho Sơn cái cơ hội lột bỏ cái mác thầy tu bao giờ đâu mà lại chẳng mang lấy. Đôi lúc anh hay hỏi mấy câu vu vơ “Thế ba mẹ không cần con cháu nối dõi à hay sao cứ bắt con đi tu hoài thế?” nhưng đáp lại chỉ là mấy câu vỏn vẹn: “Chẳng cần!” từ các bậc sinh thành. Ngày Đức Sơn bắt đầu bước chân vào giảng đường đại học, ba mẹ vội bảo đăng kí vào dự tu giáo phận. Rồi lại tính toán cho đủ năm anh tốt nghiệp là vừa đủ thời gian chuẩn bị cho kì thi đại chủng viện giáo phận mà chưa hỏi ý kiến người con trai ấy lấy một lần. Thế mà nghịch lý thay, “Đức Sơn thầy tu” vẫn một thân một mình trên chiếc xe đạp, lóc cóc tìm đường đến gặp cha phụ trách..

– Dạ con chào cha!

– Chào con!

– Dạ thưa cha, con đến để xin đăng kí vào lớp dự tu giáo phận ạ. Cha có thể chỉ dẫn giúp con được không ạ?

– Vui mừng vì con đã sớm nhận ra ơn gọi. Hy vọng con sẽ nuôi dưỡng ơn gọi của chính mình để làm giàu cho cánh đồng truyền giáo của Giáo Hội. Con điền thông tin vào bảng này rồi cha sẽ hướng dẫn thêm cho con nhé!

Thế là anh bắt đầu hành trình ơn gọi của chính mình từ đó. Cùng với những năm tháng học tập, Đức Sơn dần đào sâu cho mình cái gọi là “nội tâm”. Từ sâu thẳm bên trong, thầy ấy dần cảm thấy một dòng chảy khác lôi kéo và hấp dẫn hơn hẳn những danh xưng trước kia. Những lớp vỏ bên ngoài dần lột đi để tiến bước. Ngay cả bản thân Đức Sơn không chắc đã hiểu mình muốn gì và mong gì đằng sau cái khát vọng ấy. Thế nhưng sau năm tháng đại học, Sơn quyết định đi tu theo lựa chọn của chính bản thân mà không đắn đo suy nghĩ. Ấy vậy mà sau bốn năm tu tập, mỗi lần được hỏi về việc “Ước mơ khi chọn lựa đời sống ơn gọi là gì?” thì câu trả lời lại cứ ậm ừ trong cổ họng, chẳng thể thốt lên. Cái danh “đầu bảng” đi theo Đức Sơn cũng chỉ là những điểm số trên giấy.

Sáng hôm ấy, sau thánh lễ kết thúc kì tĩnh tâm năm, cha giám đốc gặp các anh em trong lớp. Thầy Sơn ngồi cùng người bạn tâm giao bấy lâu nay và trao đổi với nhau đôi chút về cuộc gặp gỡ lần này.

– Hòa, lần này chắc sắp có bài sai rồi nhỉ? Không biết mình sẽ đi đâu về đâu ha?

– Sơn chắc suất đi du học rồi chứ. Sinh viên đầu bảng chạy đâu cho thoát.

– Ôi, cũng chưa biết được mà! Lớp mình còn đầy anh em giỏi hơn ấy chứ.

Nói thế nhưng tự trong thâm tâm Đức Sơn cũng chỉ mong sứ vụ mới của mình là đi du học. Đấy là ước mơ bao lâu nay thầy vẫn hằng mong mỏi, lại chuẩn bị kĩ lưỡng từng giai đoạn. Việc luôn dẫn đầu trong các kì thi cũng chẳng phải là ngẫu nhiên. Cha giám đốc đi vào với xấp tài liệu trên tay và mỉm cười với anh em. Cả phòng họp đang xôn xao bỗng lặng như tờ. Hẳn ai cũng mong ngóng những thông báo và lịch dự kiến sắp tới. Chính thầy Sơn cũng cảm thấy nôn nao và bồn chồn. Cha giám đốc nhẹ nhàng đọc tên từng người và bài sai với những sứ vụ mới sau những tháng ngày học tập. Ai cũng nín thở hồi hộp chờ tên mình xuất hiện.

– Giuse Nguyễn Đình Long – sứ vụ du học – Pháp

– Matheu Trần Bá Phi – sứ vụ sở Xóm Mới – Sài Gòn

– Phanxico Xavie Lý Gia Hòa – sứ vụ du học – Mexico

– Antôn Phạm Đức Sơn – sứ vụ truyền giáo – giáo điểm Hương Của.

Sau lời của cha giám đốc, mọi người đồng loạt quay đầu nhìn Sơn. Chắc hẳn ai cũng bất ngờ vì quyết định này. Riêng Sơn lại cảm thấy tai mình ù đi, mơ mơ hồ hồ không nghe được thêm bất kì một điều gì khác.

– Chúa ơi! Có cần thiết phải như thế không ạ? Phải chăng Chúa đang thử thách sự vâng phục của con? – Thầy Sơn thầm thĩ bằng giọng nghẹn ngào trong giờ gẫm tối.

Cha giám đốc cho các anh em thời gian một tuần để suy nghĩ và nhận sứ vụ. Thử thách vâng phục luôn là điều khiến người ta phải trăn trở nhất. Suốt đêm ấy, thầy ấy cứ nằm ngửa nhìn lên trần nhà, lâu lâu lại nhìn qua giá sách gỗ trên góc tường nơi có cây Thánh Giá ngày xưa lúc mới vào tu được tặng. Những tiếng thở dài nhẹ nhàng xen lẫn những suy tư cay đắng, Đức Sơn tự hỏi: Liệu có phải mọi thứ đều là ý định của Chúa, hay chỉ là sự trớ trêu của cuộc đời? Lúc nghe sứ vụ, Sơn thấy mình như bị chia cắt giữa niềm khao khát du học sang phương trời và trách nhiệm truyền giáo được giao phó – vô phương như một con thuyền lạc trôi giữa biển khơi, không còn hướng về bến bờ nào cả. Làm sao để có thể chấp nhận chuyện này khi tâm trí đã trót mơ về một cuộc đời du học đầy hứa hẹn?

Dẫu biết đời tu là sống vâng phục nhưng “lệnh truyền” này khó lòng đón nhận. Tại sao lại là mình? Bản thân đã chuẩn bị tâm trạng và mọi thứ cho con đường du học. Thế nhưng, ngày nhận bài sai tháng 7 khi chắc rằng tâm hồn sẽ được đến với đất nước Pháp xinh đẹp để học tập và tiếp thu những kiến thức hằng khao khát thì một tin sét đánh ngang tai “đi truyền giáo”, lại còn là giáo điểm mới. Sở dĩ Đức Sơn tự tin việc du học đến thế vì có lúc nào trong quá trình học tập thầy chẳng là “Sơn đầu bảng” đâu. Vốn dĩ ngay từ đầu, niềm khao khát tu tập của Sơn chưa hẳn đã vì lòng yêu mến. Đức Sơn chọn lựa đi tu với hy vọng sẽ trở thành một “ông cha du học” với thật nhiều tấm bằng trong tay. Để Từ đó có thể thỏa mãn nỗi khát vọng bấy lâu mà ba mẹ hằng ngóng chờ.

Những suy nghĩ miên man cứ thế lôi kéo Đức Sơn đi hết ngõ ngách trong tâm hồn. Thầy ấy chất vấn bản thân về “động lực đời tu” và mong ước của mình. Giọt nước mắt nóng hổi cứ thế chực trào nơi khóe mắt. Sơn buộc bản thân đấu tranh với chính mình về việc chọn lựa. Vâng phục hay từ bỏ? Những câu hỏi cứ như lưỡi dao sắc bén đi từng nét dài trong tâm hồn. Những khoảng lặng cứ thế dậy sóng. Tâm hồn cứ như triền cát bị những đợt sóng kéo dài đập vào vồ vập khiến chẳng thể yên bình nổi. Một tiếng động nhỏ – tiếng bước chân nhẹ nhàng vang vọng bên ngoài phòng khiến Đức Sơn rùng mình. Đó có thể chỉ là tiếng bước của anh em kế bên, nhưng trong tâm trí thầy ấy, mỗi âm thanh nhỏ bé cũng như lời nhắc nhở về trách nhiệm mà bản thân đang cố trốn tránh. Cửa gỗ mở nhẹ, ánh sáng dịu dàng từ hành lang len lỏi vào, và trong khoảnh khắc ấy, Sơn chợt nhận ra: có lẽ, trách nhiệm ấy không chỉ là gánh nặng, mà còn là cơ hội để biết đến một con người thực thụ – con người biết hy sinh vì niềm tin.

Ngày nhận lãnh sứ vụ, thầy Đức Sơn thưa “vâng phục” với cha giám đốc cùng bài sai dù trong tâm trí vẫn còn lưỡng lự nhiều điều. Thầy ấy tự nhủ bản thân cứ bước rồi tới đâu thì tới. Với bài sai trên tay cùng chiếc balo vỏn vẹn đôi chút hành trang, thầy Sơn lên đường. Hành trình tới vùng đất Hương Của xa xôi bào mòn hết cả sức trẻ. Xây xẩm mặt mày vì những cung đường quanh co, những cú lộn người lên xuống vì “ổ voi, ổ gà” cùng đám bùn đất vàng của vùng núi khiến bánh xe muốn chạy cũng không thể yên bình. Rồi cứ thế đi cùng hành trình “anh trai vượt ngàn chông gai”, Đức Sơn chạm chân đến vùng đất truyền giáo đã nhận lãnh. Miệng cứ lẩm bẩm và đôi chân chỉ muốn quay đầu trở về đã kéo bước chân thầy chùn lại thêm một chút. Nghĩ cũng chẳng muốn nghĩ, thầy Sơn tưởng tượng sẽ sống thời gian tới ở đây bằng cách nào khi xung quanh chỉ có mấy căn nhà sàn đơn sơ, dột nát dựng trên triền dốc thẳng đứng. Mấy người dân bản cứ đứng trong nhà ló đầu nhìn ra, dòm ngó ông thầy cứ như “sinh vật lạ” vừa rơi xuống từ chỗ nào.

– Thầy đừng lấy làm lạ. Ai đến họ cũng như thế cả ấy mà – Người chỉ đường và cũng là cha đặc trách từ xa của giáo điểm này mỉm cười nói với Đức Sơn.

Mỗi ngày trôi qua nơi bản là một lần Đức Sơn học lại cách sống. Không phải sống như một “thầy tu” mang theo sách vở và giáo trình, mà là sống như một người đồng hành –chập chững học từng cái một: cùng cày ruộng, cùng nhóm bếp, cùng chịu đựng cái lạnh căm căm của những đêm mù sương.

Người dân bản vẫn thế, lặng lẽ như núi rừng. Họ không hỏi thầy từ đâu đến, cũng chẳng mấy khi gọi tên, chỉ khẽ gật đầu khi gặp nơi con dốc nhỏ hay lúc ngang qua chiếc cầu tre ọp ẹp và cho thầy “ăn nhờ ở đậu” dưới mái nhà dột nát. Tên gọi “kẻ hành khất” của Đức Sơn cũng bởi thế mà ra đời.

Hôm ấy, thầy Sơn mang áo quần ra suối giặt, lóng ngóng đến nỗi áo vừa phơi đã rơi xuống dòng nước cuốn mất. Đứng trên bờ cứ thế lưỡng lự chẳng biết phải làm gì, cái áo thì cứ thế trôi tuột xuống dốc suối. Mấy đứa trẻ con đứng đó cười khúc khích rồi bất chợt nhảy ùm xuống vớt lại cho. Bọn nó không nói gì, chỉ dúi chiếc áo ướt sũng vào tay Đức Sơn, mắt sáng lên một cách hồn nhiên.

Đó là lần đầu tiên thầy ấy thấy có ai đó không nhìn mình như một “người lạ”.

Dần dần, những ánh mắt dòm ngó ban đầu cũng thôi nghi kỵ. Họ bắt đầu gọi Sơn là “Thầy” – tiếng gọi ban đầu ngập ngừng, rồi dần dà thân quen, như gọi một người trong nhà.

Đức Sơn bắt đầu học tiếng bản bằng cách nghe và bắt chước những câu nói thường ngày. Mỗi khi phát âm sai, lũ trẻ con lại cười rộ lên, và thế là thầy ấy cũng cười theo. Không còn khoảng cách. Không còn sợ hãi. Không còn cảm giác “mình không thuộc về nơi này.”

Một lần, Đức Sơn được mời đến dự lễ đám tang của một cụ già trong bản. Ngồi giữa vòng người đang rì rầm khấn vái, thầy ấy không hiểu hết những nghi lễ, nhưng thấy được sự thiêng liêng của từng cái cúi đầu, từng ánh mắt long lanh lệ. Khi nghi lễ kết thúc, già làng tiến đến bên, không nói gì nhiều, chỉ khẽ đặt lên tay thầy một chùm thổ cẩm.

– Để thầy đắp cho ấm. Ở đây lạnh lắm.

Khoảnh khắc ấy, Sơn thấy lòng mình run lên – không phải vì lạnh, mà vì ấm.

Tình người nơi đây không ồn ào, nhưng lặng lẽ và sâu như suối nguồn.

Một ngày giữa tháng 6 nhưng trời mưa tầm tã, mưa khiến lối mòn đi đường trở nên nhão nhoẹt và bùn lầy. Thầy Sơn nhìn ra con đường ngoài kia ngán ngẩm thở dài. Ngày mai đang định đi mua một ít vở để dạy mấy đứa trẻ con trong bản tập viết mà thế này thì…Thầy Sơn cảm thấy mình vừa mới trở nên thân quen một chút và không còn lạc lõng thì dường như mọi dự định cho nơi này đều không suôn sẻ. Bao nhiêu chuyện cứ đổ dồn vào tâm trí. Mơ hồ Đức Sơn tự nghi vấn bản thân: “Liệu có phải đây là dấu chỉ để biết rằng mình không hợp đời tu? Nên tiếp tục hay từ bỏ?” Dạo gần đây khi mọi dự tính không như ý, những dòng suy nghĩ ấy lại lần lượt dấy lên trong tâm hồn khiến Sơn không được bình an. Thầy ấy cứ nghĩ rồi lại nghĩ nhưng dường như mọi thứ đều đi vào bế tắc và không lời giải đáp. Thiên Chúa thì vẫn lặng im mặc cho vô vàn câu hỏi được gào thét trong tâm hồn chàng trai ấy vào mỗi đêm. Ngài vẫn vô tâm và cứ thế để Đức Sơn tự chiến đấu với chính nội tâm của mình. Thả vào không gian một tiếng thở dài, đóng vội cánh cửa đơn sơ, thầy Sơn đắp lên mình cái chăn mỏng đang định đi ngủ…

– Bộp! Bộp! Bộp! – Tiếng đập cửa vang lên dữ dội, dồn dập như thể ai đó đang giằng xé giữa hoảng loạn và tuyệt vọng.

– Nhà không vững mà ai đập cửa mạnh thế! – Đức Sơn lẩm bẩm, vừa vùng khỏi chiếc chăn ấm áp vừa tiến ra cửa.

Trước mắt Sơn là bà mẹ đơn thân trong bản, mặt mày hoảng hốt, thở gấp gáp như vừa chạy hết sức bình sinh. Sau lưng là đứa nhỏ mặt đứa bé tái xanh, thở khò khè, người nóng hầm hập. Mẹ nó bế nó đến chòi trong đêm mưa như trút. Chị cứ lắp bắp:

– Thầy ơi… cứu nó, cứu con em…

Đức Sơn luống cuống. Ở nơi này, không có trạm xá gần. Không có thuốc. Không có bác sĩ. Chỉ có một người “thầy tu” với đôi tay từng chỉ quen lần tràng hạt và viết nhật ký.

Nhưng đêm đó, Sơn đã làm điều chưa từng dám làm – vác đứa trẻ lên lưng, đội mưa, chạy bộ qua rừng, qua dốc, qua bùn đất trơn trượt, băng hơn hai giờ đường rừng để đến được trạm y tế xã. Chẳng nghĩ gì nhiều. Chỉ biết rằng mình cần phải chạy thật nhanh và cứ thế cắm đầu chạy. Cứ thế, Đức Sơn cứ chạy trong đêm mưa mù tối ấy, chạy để cố gắng cứu vớt sinh linh bé bỏng đang nằm trên lưng mình. Khi đứa bé qua cơn nguy kịch, người mẹ không khóc. Bà chỉ nắm tay thầy thật chặt, cúi đầu, và nói trong hơi thở run run:

– Ơn trời. Ơn Chúa. Ơn thầy.

Lúc ấy, trái tim dường như hẫng đi một nhịp. Đức Sơn thấy mình chẳng làm gì ngoài việc chỉ chạy và chạy. Lúc ấy chính Sơn cũng đâu có suy nghĩ gì đặc biệt nhưng chỉ biết sinh mệnh ấy cần và cứ thế dấn bước. Lời cảm ơn ấy khiến thầy Sơn cảm thấy bản thân mình dường như được kéo về thực tại đằng sau những suy nghĩ muốn từ bỏ. Những thử thách hay khó khăn xảy đến dường như là món quà mà Chúa dành cho để Sơn biết yêu và yêu nhiều hơn. Ngài gửi đến cho Đức Sơn những con người xa lạ, những bước chân chập chững và khó khăn nhưng cũng dành tặng những bàn tay ấm áp, những cử chỉ yêu thương không cần nói thành lời. Và cứ thế, thầy Sơn không còn thấy mình như một kẻ “được sai đến”, mà là một phần của vùng đất này – của nỗi đau, của hy vọng, của những điều không thể lý giải bằng lý trí. Thầy ấy biết rằng không có gì tuyệt vời hơn khi lấy chính tình yêu để đáp trả tình yêu. Bởi vì chính bản thân cũng là kẻ được yêu trong mắt Người.

Về lại chòi trong mưa sớm. Dưới vòm lá ướt đẫm sương, Đức Sơn đứng lặng. Và rồi – như một cơn gió nhẹ xẹt qua tim khiến Sơn hiểu ra: đây chính là sứ mạng Ngài đã dành tặng.

“Có những dấu chân in trên cát, gió nhẹ nhàng thổi bay đi. Có những dấu chân in trên đất, in hằn đến mai sau”. Sau đêm vật vã, Đức Sơn ngồi bình tâm dưới mái nhà lách tách giọt nước ngắn dài, nhẹ nhàng lật giở từng trang nhật kí và khẽ mỉm cười với chính mình dầu cho ngoài kia gió bão đang gào thét. Gió rít ngoài kia nhưng tâm hồn thầy Sơn bình an đến lạ. Thầy ấy thực sự cảm thấy mình trở nên “kẻ hành khất của Đức Kitô”. Những giọt nước mắt rơi lã chã hòa cùng những giọt mưa nhưng nước mắt ấy chẳng còn vị đắng nhưng là giọt nước mắt của kẻ hành khất tìm được lẽ sống của đời mình.

Khi những giọt mưa vẫn còn rơi tí tách ngoài hiên, Đức Sơn ngẩng đầu nhìn bầu trời u ám, lòng như được rửa trôi hết những mảnh vỡ của quá khứ. Giữa âm vang của mưa và tiếng gió thì thầm, thầy ấy chợt nhận ra rằng, chính trong những khoảnh khắc yếu mềm ấy, niềm tin của mình dần được xây đắp theo cách mà bao lần “đầu bảng” kia chẳng bao giờ có thể dạy cho.

Trên con đường ướt đẫm vũng nước, Đức Sơn quan sát những người anh em truyền giáo bước đi bên nhau, mỗi bước chân như mang theo bao niềm hy vọng và cả những vết sẹo của thời gian. Thầy Sơn hiểu rằng, con đường ơn gọi không phải lúc nào cũng trải đầy hoa hồng, mà thường là những đoạn đường gập ghềnh, thử thách niềm tin và lòng kiên trì. Nhưng chính vì thế, mỗi thử thách lại ẩn chứa một bài học quý giá – bài học về sự khiêm nhường, lòng dũng cảm và sức mạnh từ niềm tin vào Đức Kitô.

Đức Sơn nhớ lại tiếng nói nhẹ nhàng của cha phụ trách ngày xưa: “Hy vọng con sẽ nuôi dưỡng ơn gọi của chính mình để làm giàu cho cánh đồng truyền giáo của Giáo Hội”. Những lời dạy ấy như hạt mưa rơi vào lòng đất khô cằn, dần dần làm nảy mầm những mầm sống mới. Sơn nhận ra rằng, giọt nước mắt của kẻ hành khất không chỉ là dấu vết của nỗi buồn, mà còn là minh chứng cho quá trình thanh lọc tâm hồn, cho sự chuyển hóa từ những ước mơ vụn vặt thành niềm tin vững chắc vào giá trị sống.

Cơn mưa tháng 6 ấy vẫn tầm tã, thế nhưng trong tâm hồn thầy Sơn ánh nắng đã rực rỡ chiếu soi. Thầy ấy bước ra khỏi căn chòi dột nát, mỉm cười chào đón một ngày mới với tất cả những thử thách, những bất trắc mà con đường truyền giáo mang lại. Mỗi bước chân dù lặng lẽ, dù nặng trĩu nhưng giờ đây đều chứa đựng ý nghĩa thiêng liêng – những dấu chân in trên đất, sẽ theo dấu mãi mãi của thời gian.

Giờ Đức Sơn không còn ước ao cuộc đời du học xa hoa nữa, bởi lẽ chính con đường mình đang đi, dù có phong ba bão táp, lại dạy cho thầy biết yêu thương, chia sẻ và sống trọn vẹn từng khoảnh khắc. “Kẻ hành khất của Đức Ki-tô” – một danh xưng từng khiến thầy Sơn cảm thấy nhục nhã – giờ đây đã trở thành niềm tự hào, biểu hiện cho một tâm hồn được thanh lọc qua lửa thử của số phận.

“Kính thưa quý anh chị em, hôm nay tôi muốn kể cho anh chị em nghe về người anh em của tôi để mọi người hiểu thêm một chút về người đã từng cùng ăn, cùng sống, cùng cày ruộng, cùng làm rẫy với anh chị em. Những điều đã được viết ra trong hành trình gieo hạt giống Tin Mừng đến vùng đất ngoại biên của thầy Đức Sơn. Người đã từng in dấu chân của mình nơi mảnh đất Hương Của này. Người đã từng chung nhịp đập với anh chị em, cùng vui, cùng khóc, cùng cười và ươm mầm đức tin cho anh chị em. Hôm nay, ngày lễ tạ ơn thầy lãnh nhận tiến chức linh mục, một ơn gọi cao cả mà Chúa thương ban. Xin anh chị em cùng cầu nguyện thêm cho người anh em của tôi trên những hành trình sắp tới để trên những bước đường truyền giáo người hành khất của Đức Ki-tô luôn kiên vững niềm tin, dám sống, dám hy sinh và dấn thân như cách cha Đức Sơn đã sống với anh chị em trong những năm tháng ấy và để cha luôn là mẫu gương lấy tình yêu đáp trả tình yêu trên hành trình dâng hiến của chính mình.”

Vị linh mục chủ tế quay đầu nhìn lên cung thánh nơi tân tiến chức đang ngồi với nhưng giọt nước mắt lăn dài. Hành trình ấy bắt đầu từ chuyến xe chính mình đã chở một chàng trai mang đầy ưu tư đến vùng đất ngoại biên này và có những lúc cũng chứng kiến những giây phút trưởng thành và vấp ngã của người trẻ ấy. Giờ đây bóng dáng ấy cũng đã trở thành một linh mục của Chúa, một linh mục sẽ hết mình vì đàn chiên nơi những mảnh đất đức tin chưa được ươm mầm.

* Maria Dương Thị Quỳnh
Hội dòng Mến Thánh Giá Huế
Cuộc thi ‘400 năm – Người chứng thứ Nhất’