Một số đóng góp của Lữ Y Đoan qua Sấm truyền ca

15/10/2025 379 lượt xem

Mở đầu

Lữ Y Đoan (1613 -1678) là một trong bốn linh mục người Việt đầu tiên của giáo phận Đàng Trong. Lữ Y là tên thánh Louis phiên âm theo tiếng Việt. Đoan là tục danh của ngài. Tên tuổi của ngài chỉ xuất hiện vào năm 1675 trong các thư từ hay tường thuật của các thừa sai người Pháp lúc đó. Nhật ký ngày 30/12/1675 của Đức cha Lambert de la Motte ghi rằng: “Chúng tôi đã sai Thầy Louis Đoan, thầy giảng kỳ cựu và là một trong các người thông thái nhất của vương quốc [Đàng Trong] đến với cha De Courtaulin để cha này chỉ dạy chữ nghĩa của chúng tôi, với ông Đôminicô, thầy giảng xứ Bàu Nghệ, và chuẩn bị họ chịu chức thánh” (dẫn theo Đào Quang Toản). Cha chịu chức năm 1670 và mất năm 1678, tức chỉ 8 năm linh mục. Trong thời gian vắn vỏi này, ngoài việc thi hành việc nhà Chúa, với tài năng và ước nguyện của một trong các linh mục người Việt đầu tiên của Đàng Trong, ngài luôn nung nấu ý chí làm cách nào để đưa Kinh Thánh, giáo lý của giáo hội Công giáo đến gần với giáo dân. Có lẽ chính vì thế mà Sấm truyền ca đã ra đời.

Sấm truyền ca có một “số phận long đong” (từ dùng của Lm Võ Tá Khánh). Chúng ta chưa tìm ra bản gốc bằng chữ nôm của tác phẩm này. Hiện nay, ngoài bản chép tay của nhà báo Nguyễn Văn Nhạn được gia đình cố GS. Trần Thái Đỉnh lưu giữ, chúng ta còn một số bản khác như bản chép tay của Paulus Tạo, phiên bản của Lm. Phaolô Qui vào đầu thế kỷ XX,… Bằng cách tham khảo một số bài viết của các tác giả đi trước như của Lm. Trăng Thập Tự – Võ Tá Khánh và Nguyễn Thanh Quang, Đào Quang Toản, Trần Thanh Đạm,… bài viết đưa ra vài cảm nhận, ghi nhận về những giá trị của tác phẩm Sấm truyền ca.

  1. Mở đầu cho một kiểu sáng tác trong văn học Công giáo

Sấm trong Từ điển Việt – La – Bồ đọc là sắm, nghĩa là “lời sấm, lời tiên tri”. Sấm truyền (trang 200). Đại Nam Quốc âm tự vị không có mục từ này. Tự điển Đại Nam quốc âm tự vị định nghĩa sấm là “lời chứng nghiệm”. Rồi giải thêm “sấm truyền” “sấm ký” là “sách biên ký các lời chứng nghiệm, sách thánh” (trang 879). Từ điển tiếng Việt: giải nghĩa từ sấm là “Lời dự đoán có tính chất bí ẩn về sự kiện lớn trong tương lai có quan hệ đến đời sống của một xã hội, một dân tộc, theo thuật lí số” (trang 853).

Sấm truyền ca là công trình diễn ca những quyển đầu của Kinh Thánh Cựu ước, nguyên tác bằng chữ Nôm. Hay nói cách khác, đây là tập thơ lục bát diễn nôm Kinh Thánh của đạo Công giáo. Kinh Thánh Công giáo gồm Cựu Ước và Tân Ước. Kinh Thánh, ngoài các sách tiên tri, lời nói mang tính tiên tri còn gồm nhiều sách khác. Do vậy, sấm truyền trong cách đặt tên của Lữ Y Đoan không mang nghĩa như Từ điển Việt – La – Bồ, Từ điển tiếng Việt, Từ điển tiếng Việt mà cần phải hiểu như Tự điển Đại Nam quốc âm tự vị định nghĩa sấm là “lời chứng nghiệm”, “sấm truyền” “sấm ký” là “sách biên ký các lời chứng nghiệm, sách thánh”. Còn từ “ca” cần được hiểu là diễn ca, nghĩa là thể loại văn vần dùng lời thơ lục bát hoặc song thất lục bát để trình bày một nội dung một câu chuyện nào đó. Chẳng hạn: Thiên Nam ngữ lục là tập diễn ca lịch sử Việt Nam (Lê Ngô Cát, Phạm Đình Toái), Lịch sử nước ta (Hồ Chí Minh); Bài ca Á tế Á, Đề tỉnh quốc dân ca,… Với văn học Công giáo cũng có một số tác phẩm như Phúc Âm tứ sử diễn ca (1954) của Alexis Tống Viết Toại; Thánh vịnh toàn tập (1964) của Giuse Mai Lâm; Nhật tư Thánh vịnh và Diệu ca (1962 – 1963) của Gérard Gagnon (Cha Nhân); Phúc Âm diễn ca (1972) của Phê-rô Long Giang Tử; Lời ca muôn thuở – Diệu ca (1966) của An Sơn Vị; Trường ca dân Chúa (1970) của JBT Cao Vĩnh Phan; Trường ca Cứu độ – Ca vang Lời Chúa (2000) của Giuse Đinh Cao Thuấn; Thánh vịnh thơ Việt (2000) của Phạm Xuân Thu; Sấm ngôn-Khải huyền-Nguồn sống (2001) của Kim Chi; Phúc Âm thơ của Đức Hồng Y Phao-lô Giuse Phạm Đình Tụng; Cuộc đời Chúa Giê-su (1993) của Giuse Vũ Ngọc Bích; Dụ ngôn Phúc Âm (2007) của Xuân Ly Băng; Trong ánh Tin Mừng (2007) của Phê-rô Hoàng Diệp; Sứ điệp tình thương (1999) của FX Nguyễn Xuân Văn, và gần hơn là bộ sách trường thiên Thánh Kinh toàn tập diễn ca của linh mục An-tôn Lê Quang Trình. Như vậy, trong dòng chảy văn học Công giáo, Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan là tác phẩm có tính chất tiên phong, mở đầu cho cho một kiểu sáng tác mới -diễn ca.

  1. Dấu ấn thời đại qua ngôn ngữ

Là một tác phẩm mang tính chất mở đầu cho kiểu sáng tác diễn ca trong văn học Công giáo, là một tác phẩm được hình thành cách đây gần 4 thế kỷ, Sấm truyền ca, do vậy cũng vừa mang dấu ấn thời đại, dấu ấn nhà đạo nhưng cũng vừa cho thấy những đóng góp của tác giả.

Dấu ấn thời đại thể hiện rõ nhất qua việc sử dụng cách phiên âm tên nước ngoài. Trong Sấm truyền ca, giữ nguyên tinh thần của sách Kinh Thánh, Lữ Y Đoan đã đưa vào tác phẩm của mình tên rất nhiều địa danh, tên riêng của các nhân vật. Đó là các nhân vật A dang hoặc A dong (A đam), Y-ba (Eva), An-biên (Aben), Càn-dinh (Cain), Xuân-lài (Sarai), Phán vương (Pharaoh)… Đó là tên các địa danh Trà-nam (Canaan), Sĩ kiên (Sikhem), Giếp-tô (Ai Cập),… Ngày nay, đọc Sấm truyền ca nhiều độc giả sẽ khó tiếp nhận vì cách phiên âm này. Do vậy, có ý kiến cho rằng cần phải biên tập, hiệu đính, thậm chí là chỉnh sửa lại cách phiên âm tên nước ngoài cho phù hợp với bối cảnh hôm nay. Song chúng tôi cho rằng đó là việc làm không cần thiết, thậm chí là vi phạm bản quyền. Chúng tôi ủng hộ ý kiến giữ nguyên như cách viết – như dấu ấn của một thời.

Đọc Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan chúng ta cũng thấy xuất hiện rất nhiều từ được xem là ngôn ngữ nhà đạo. Tức đây là lớp từ vựng hay được sử dụng trong kinh kệ hay trong sinh hoạt hàng ngày của những tín hữu đạo Công giáo. Đó là các từ như hứng vui (mất vui, cụt hứng), cả và (tất cả), mỏng giòn (nói về thân phận con người), chư thần (chư thần chư thánh: các thần thánh), bào huynh (anh ruột), vạn đại (trọn đời, muôn đời), càn khôn (trời đất), miêu duệ (dòng dõi), gia đạo, tử tôn, … Chúng tôi đồng ý với Lm Võ Tá Khánh – Nguyễn Thanh Quang khi cho rằng ngôn ngữ trong Sấm truyền ca có tính “thuần Việt”. Hai tác giả đã phân tích cụm từ “hằng ngày dùng đủ” để làm sáng tỏ nhận định trên. Chúng tôi dẫn thêm một số từ thuần Việt như lịnh/lệnh, vưng nghe (vâng nghe), hay từ bá láp bá xàm: Chú mày bá láp bá xàm/Các anh thần phục mày làm vua sao.

Ngoài ra, thầy cả Louis được xem là người thông Hán học. Chính vì thế, trong Sấm truyền ca chúng ta cũng thấy xuất hiện nhiều từ Hán và được vận dụng khá nhuần nhuyễn, sáng tạo như song tường (biết rõ cả hai – cây biết lành biết giữ), lưỡng vực, hàn vũ, tạo trình, tào khang, hậu lai, quan san, phong trần,… Chẳng hạn: Gia cước đời sống khác hơn/Tin vào thượng đế nguồn ơn sinh tồn/Luôn luôn nhắc nhở cháu con/Thuận thiên vi bổn, hòa nhơn vi cần; Đăng trình không ngại nhọc nhằn; Ra đi, cháu phải ngang nhiên/Ngại lòng cậu ác, hậu tiền bất phân; Trời quang, gió vẹt, mây mù/Án – lâm càng rõ phù du cuộc đời; Chữ rằng vạn ác chi dâm/Hoàng thiên hữu nhãn, thiện tâm gặp lành (các chữ Hán được chúng tôi in đậm để phân biệt– ĐQMD).

Đặt tác phẩm Sấm truyền ca vào bối cảnh của thế kỷ XVII, chúng ta thấy Lữ Y Đoan một mặt chịu những ảnh hưởng do yếu tố thời đại nhưng mặt khác ông cũng đã có những sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ. Điều này cũng cho thấy tài năng của ông. Điều này cũng đã góp phần vào sự thành công của Sấm truyền ca.

  1. Nỗ lực đưa đạo vào văn hóa Việt Nam

Nguyễn Văn Trung trong Đôi lời giới thiệu cho Sấm truyền ca nhận thấy sự “ngạc nhiên và thán phục về một nỗ lực thành công “đưa đạo vào văn hóa Việt Nam” ngay cả từ thuở ban đầu. Về nội dung, Thầy cả Lữ Y Đoan đã Việt hóa Kinh Thánh bằng toàn bộ tư tưởng Việt Nam dựa trên Tam giáo, Kinh dịch, Tử vi tướng số, võ nghệ, ca dao tục ngữ” (Nguyễn Văn Trung). Theo tôi thực ra trong Sấm truyền ca không có Tử vi tướng số hay chuyện dị đoan. Chẳng hạn, trong Sáng thế ký kể lại giấc mơ của Pharaoh về “bảy con bò mập và tốt, ăn cỏ trong bưng. Rồi nầy, bảy con bò khác, xấu dạng, gầy guộc, ở dưới sông đi theo lên sau”. Trong Kinh Thánh, giấc mơ thường được mô tả như là sự mạc khải của Chúa. Qua những giấc mơ, Chúa hướng dẫn một người vào một thời điểm quan trọng việc phải làm hay nơi phải đi. Với niềm tin và sự mạc khải của mình, Giuse giải mã giấc mơ 7 con bò gầy bò béo của Pharaoh là: Bảy năm liên tiếp tới đây/Bảy năm sung túc, ruộng cày vung bông/Bảy lép tiếp nối sau cùng/Bảy năm đói kém, cánh đồng khô khan. Và sau đó thì đúng là mọi chuyện xảy ra đúng như lời giải thích của Giuse.

Trở lại vấn đề nỗ lực đưa đạo vào đời. Trước hết, trong Sấm truyền ca chúng ta thấy xuất hiện rất nhiều dấu ấn của Tam giáo, rõ nét nhất là của Nho giáo, của triết lý âm dương. Theo triết học phương Đông, các yếu tố vật chất làm nên thế giới khách quan của chúng ta, gồm: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, chúng vận hành theo hai chiều khác nhau, một chiều tạo ra sự sinh trưởng phát triển, một chiều tạo ra sự tàn lụi hủy diệt. Lữ Y Đoan viết: Cơ trời sinh hóa, hóa sinh/Ngũ hành thiên địa tiến hành yên xuôi. Theo Kinh Thánh của người Công giáo, trong hành trình sáng tạo, Thiên Chúa tạo dựng người nữ từ xương sườn người nam. Niềm tin này ít nhiều gặp gỡ với triết lý âm dương: trong dương có âm, trong âm có dương: Ngày kia, người ngã giấc nồng/Tay trời rút lấy xương sườn A dong/Tạo nên một gái má hồng/A dong thức dậy thấy lòng nôn nao/Thịt xương này chẳng bởi đâu/Nhưng được nặn nhào bởi thịt xương tôi/Thì đây diễn biến luật trời/Âm từ dương xuất, nữ thời do nam. Các bản dịch Kinh Thánh đều gọi là “người nữ” hoặc “người đàn bà”. Lữ Y Đoan lại gọi E va là “má hồng”. Đây là cách định danh vốn xuất hiện trong các nước phương Đông như Việt Nam, Trung Hoa. Ca dao có những câu như Ai xui em có má hồng/Để người quân tử chưa trông đã thèm hay Ai xui má đỏ hồng hồng/Để anh nhác thấy đem lòng thương yêu. Trong Truyện Kiều, cụ Nguyễn cũng gọi người nữ có nhan sắc là má hồng: Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Đoạn thơ sau đây lại vừa thấm đẫm tinh thần của Nho giáo với quan niệm nhân chi sơ tính bản thiện (Mạnh Tử), rồi quan niệm “tề gia” của Nho giáo trong tu thân – tề gia – trị quốc – bình thiên hạ, lại vừa thấm nhuần quan niệm đề cao chữ hiếu của người Việt:

Tiếp theo sĩ thượng mở đường

Tu thân vi bản, chủ trương ôn hòa

Nêu cao hiếu thảo mẹ cha

Tới thời Ý hữu tề gia kiện toàn

Trước lo trọng nghĩa tào khang

Làm ăn cầm kiệm nuôi đàn cháu con

Bàng bạc đây đó trong nhiều câu, chúng ta thấy phảng phất đâu đó những câu ca dao, tục ngữ của người Việt. Chẳng hạn ở cặp lục bát Gian nan là lẽ huyền vi/Đốt nung cuộc sống để tri đá vàng, chúng ta thấy hồn cốt của câu tục ngữ Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Cặp lục bát Lẳng lơ xao động loan phòng/Nào ngờ sen chẳng hơi bùn vấn vương lại làm nhớ đến bài ca dao: Trong đầm gì đẹp bằng sen/Lá xanh, bông trắng lại chen nhuỵ vàng/Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh/Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Hai cặp lục bát: Lẽ nào bội chủ, phản thầy/Trời cao không để mạng nầy ngồi yên/Hồ ly ghét đạo thánh hiền/Phu nhân chỉ biết Điều Thuyền, Tây Thi vừa gợi nhắc câu tục ngữ Lừa thầy, phản bạn; vừa bất ngờ khi thấy tác giả đưa cả những nhân vật trong văn học Trung Hoa là Điêu Thuyền, Tây Thi vào tác phẩm của mình. Chúng ta còn gặp các thành ngữ, tục ngữ khác trong một số câu như: Buồn trông vật đổi sao dời; Mưu đồ là thói người ta/Xưa nay thành sự vốn là trời cao; Mong chim liền cánh, ước cành liền cây; Rằng:“…Cha chúc nó vuông tròn”; Nhưng nhờ trời độ bình yên/Tai qua nạn khỏi, ưu phiền cũng vơi…(các thành ngử, tục ngữ được chúng tôi in đậm để phân biệt– ĐQMD). Cách diễn ca bằng cách sử dụng nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao làm cho Kinh Thánh trở nên gần gũi, dễ hiểu, dễ tiếp nhận hơn.

Trong Kinh Thánh khi nói về người đàn bà hiếm muộn, các tác giả hay sử dụng từ “son sẻ” hay rõ hơn là “hiếm muộn”. Theo Lm Phạm Quốc Túy, phụ nữ hiếm muộn được xem là “không được Thiên Chúa sủng ái” (như trường hợp của bà Sarai (St 16,1-4), vợ và nữ tỳ vua Avimêléc (St 20,17-18), ngược lại, bà Lêa không được Giacob yêu, thì Chúa lại cho sinh nhiều con (St 29,31-34), bà Anna (1Sm 1,1-20 x. Is 4,1 Lc 1,5-25)), “vì chúng sẽ bị đi đày” (Đnl 28,41). Với người Việt và đặc biệt với tín ngưỡng phồn thực, người Việt rất xem trọng việc có con nối dõi tông đường, có con để báo hiếu. Tư tưởng của Nho giáo cho rằng: Bất hiếu hữu tam, vô hậu vị đại (Tội bất hiếu có ba điều, mà không con nối dõi là lớn nhất). Tục ngữ người Việt còn nặng nề hơn khi quy kết: Cây độc không trái, gái độc không con. Trong Sấm truyền ca ít nhất có hai lần khi đề cập đến chuyện hiếm muộn, Lữ Y Đoan đã dùng các từ “gái độc”, “hữu tam bất hiếu”: La-cương hận quá trách chồng:/Mang danh gái độc không con thế này/Dám đâu chường mặt với ai/Sao chàng không thấy đắng cay tủi phiền và đây là “Xuân-lài buồn việc không con/Hữu tam bất hiếu, gọi chồng thở than/Phận thiếp son sẻ cũng đành/Xin đứa tớ gái là nàng Hằng -sa (để làm hầu thiếp may ra nối dòng). Như vậy, tư tưởng của Nho giáo, văn hóa Việt đã ảnh hưởng khá sâu đậm trong cách diễn ca của Lữ Y Đoan.

Từ những nỗ lực mang tính tiên phong của Lữ Y Đoan, sau này trong dòng văn học Công giáo, chúng ta có những tiếp bước như thơ Nguyễn Văn Thích, Xuân Ly Băng, Lê Đình Bảng,… Chẳng hạn, trường hợp Nguyễn Văn Thích đã thành công khi đưa hình tượng Đức Mẹ hội nhập vào văn hóa Việt Nam: Ru Con, Con ngủ cho muồi/Như buồng nho chín trên đồi Bêlem/Ru Con, Con ngủ cho êm/Ngày đông thì ngắn mà đêm thì dài/(…) Ru Con, Con ngủ cho yên/Đoàn chiên lài lạc, Chúa chiên lạc lài/Ru Con, Con ngủ cho may/Cho người mau lớn để ngày hy sinh/Ru Con, Con ngủ cho lành/Bằng yên dưới đất rạng danh trên trời (Đức Mẹ ru con).

  1. Một tác phẩm thiên về chất suy tư – triết lý

Đọc một tác phẩm cùng cảm hứng sáng tác, chặng hạn Sứ điệp tình thương của Lm Nguyễn Xuân Văn, chúng ta thấy bàng bạc trong đó là những cảm xúc của tác giả hay có khi là những câu thơ đầy hình tượng, kiểu như:

  • Canh tàn, trăng lặn, sao thưa

Đất chưa rõ mặt, trời chưa thấy đàng

  • Chỉ trong một lát nữa đây

Trông Thầy chỉ thấy trời mây một màu

Nhưng rồi trong một ít lâu

Lại nom thấy bóng minh châu Thầy về

  • Phướn tang cờ rũ đen trời

Sáo ngân điệu thảm kèn khơi mạch sầu

Người đi vào cõi thiên thâu

Kẻ đưa tư lự cúi đầu trang nghiêm

Điều này cũng xuất hiện trong khá nhiều tác phẩm diễn ca khác như Lời ca muôn thuở – diệu ca (An Sơn Vị), Thánh vịnh thơ Việt (Phạm Xuân Thu), Sấm ngôn-Khải huyền-Nguồn sống (Kim Chi), Dụ ngôn Phúc Âm (Xuân Ly Băng),… Với Sấm truyền ca, Lữ Y Đoan lại có rất ít câu, đoạn mang tính trữ tình ngoại đề, ít những bức tranh thơ. Thay vào đó, thầy cả Đoan lại mạnh về những chiêm nghiệm mang tính triết lý. Điều này xuất hiện ngày từ những dòng đầu tiên của tác phẩm với những suy tư như:

Ngày ngày trước mắt chúng sinh

Chữ đời chữ đạo phân minh đôi đường

Xưa nay trong kiếp vô thường

Thấy điều vân cẩu mà thương nhơn phàm

Những chiêm nghiệm này, chúng ta còn thấy xuất hiện rất nhiều trong các phần, đoạn khác nhau. Chẳng hạn suy tư về sự phù vân, sự vô thường của kiếp con người mỏng giòn, tác giả Sấm truyền ca viết: Ngàn muôn tài trí thế nhân/Khác nào bọt nước phù vân mỏng giòn. Chiêm niệm về chuyện thế thái nhân tình, chuyện ứng xử ở đời, Lữ Y Đoan cùng gửi gắm những triết lý: Buồn thay thế thái nhơn tình/Trách quan chước tửu phồn vinh quên người. Hay đây là những chứng nghiệm về quy luật cuộc đời: Bao năm trong khoảng đất trời/Già đi âm cảnh, trẻ vui dương trần. Từ quan niệm khá quen thuộc với đúc kết mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, cùng với những hiểu biết giáo lý của đạo Công giáo cũng như đức tin của mình, thầy cả Đoan đúc kết: Mưu đồ là thói người ta/Xưa nay thành sự vốn là trời cao. Từ câu chuyện chiến tranh giữa các phe nhóm, giữa dân Israel và Ai Cập, tác giả cũng cho thấy tố chất, sở trường của mình: Chuyện đời là chuyện chiến tranh/Cá lớn, cá bé giựt giành miếng ăn.

Lý giải như thế nào về việc này? Chúng ta biết thầy cả Lữ Y Đoan viết tác phẩm này khi đã về già – gần 60 tuổi. Ở tuổi giữa tri thiên mệnh và kề cận lục tuần, cùng với những kiến thức Đông Tây mà thầy cả đã thu nhận được, đặc biệt với tố chất của một bậc chân tu, thiên về hoạt động nội tâm nên thầy cả Đoan đã có nhiều suy tư, chiêm nghiệm về lẽ nhân sinh đạo – đời. Chính vì thế mà cứ có dịp là Lữ Y Đoan gửi gắm những triết lý. Do đã thấm nhuần tư tưởng và bằng những trải nghiệm của bản thân nên những câu thơ triết lý của ông cũng nhẹ nhàng và dễ đón nhận.

Sau cùng cũng phải ghi nhận một số đóng góp khác của Sấm truyền ca như đây là tác phẩm diễn ca Kinh Thánh nên tác phẩm cũng theo sát bản văn Kinh Thánh. Trước đây đã từng có những ý kiến cho rằng Sấm truyền ca không phản ánh tinh thần của Kinh Thánh, “bị các thừa sai phê phán, dè dặt với Sấm truyền ca” (lời của Nguyễn Văn Trung), không bám sát bản văn. Bản thân tôi lại thấy ngược lại, thầy cả Lữ Y – Đoan đã bám rất sát vào bản văn Kinh Thánh để cố gắng một cách tốt nhất diễn tả tinh thần của Kinh Thánh. Điều này đã được Bùi Công Thuấn lý giải qua bài viết Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan & Những giá trị văn chương. Về nhịp thơ: tác phẩm Sấm truyền ca được sáng tác bằng thể thơ lục bát, với nhịp điệu truyền thống là nhịp chẵn. Trong Sấm truyền ca, đây đó cũng thấy tác giả phá cách bằng những cách ngắt nhịp khác lạ như nhịp 3/3: Ôm cha già tóc bạc phơ/Từ ngày ly biệt đến giờ bao năm; 3-1-2: Cọng chung con, cháu, dâu hiền/Bảy mươi tất cả, sang miền Giếp – tô. Về cách ngắt dòng, chúng tôi thấy một số cách ngắt dòng rất lạ. Đơn cử môt trường hợp sau: 

Nếu ăn mang họa tử vong

Rằng: không phải vậy. Trời phòng ai ăn

Sẽ nên minh triết như thần

Rõ điều thiện ác, sánh bằng trời cao.

Đoạn thơ này diễn đạt lại câu trả lời của rắn khi hỏi Eva: ‘Có thật Đức Chúa Trời không cho phép các người ăn mọi cây trong vườn không?’. Ê-va đáp: ‘Chúng tôi được ăn trái của mọi cây, chỉ trừ một cây bị cấm mà thôi. Nếu ăn trái của cây đó, chúng tôi sẽ chết’. Con rắn liền nói: ‘Các người sẽ không chết đâu. Thật ra, khi ăn trái của cây đó, các người sẽ giống như Đức Chúa Trời’. Như vậy, câu thơ thứ hai trên được ngắt thánh hai câu. Rồi cụm từ “Trời phòng ai ăn” phải nối với câu ba thì mới rõ nghĩa, và tương xứng với câu Kinh Thánh: Thật ra, khi ăn trái của cây đó, các người sẽ giống như Đức Chúa Trời. Cách ngắt dòng như vậy là hiếm, độc đáo, thường chỉ xuất hiện từ phong trào thơ Mới về sau. Cách ngắt dòng khác lạ này cũng cho thấy được tâm địa, sự gian xảo của con rắn.

Nếu những đóng góp trong việc xác lập một kiểu sáng tác mới, nỗ lực đưa đạo vào đời cho thấy cái tâm của Lữ Y Đoan thì chất suy tư, triết lý trong Sấm truyền ca cho thấy tố chất của Thầy cả Đoan. Cùng với đó là những cách tân về cách ngắt nhịp, dòng cũng góp phần làm nên những giá trị nghệ thuật của Sấm truyền ca. Chính những điều này đã đem lại những sắc thái mới cho tác phẩm.

Kết luận

Sấm truyền ca là một tập thơ lục bát diễn nôm Kinh Thánh của Lữ Y Đoan được sáng tác vào cuối thế kỷ XVII. Tuy bản gốc chưa được tìm thấy, song qua những khảo sát từ bản chép tay của Nguyễn Văn Nhạn đã cho thấy sáng tác có một số giá trị – ý nghĩa như: 1. Là tác phẩm mở đầu cho kiểu sáng tác diễn ca trong văn học Công giáo; 2. Có nhiều đặc trưng trong việc sử dụng ngôn ngữ – cả trong phiên âm từ nước ngoài, cả trong sử dụng chữ Hán cũng như sử dụng thuần Việt; 3. Đóng góp rõ nhất của tác phẩm là đưa đạo vào văn hóa Việt Nam; 4. Tác phẩm Sấm truyền ca cũng cho thấy sở trường của tác giả là thiên về chất suy tư, triết lý. Với những nhận định ban đầu này, theo tôi, Sấm truyền ca cần sớm được xuất bản và phổ biến cho công chúng để có những nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện hơn.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trăng Thập Tự – Nguyễn Thanh Quang (2023): “Sấm truyền ca –  truyện thơ kinh thánh long đong từ  thế kỷ XVII”, https://gpquinhon.org/q/ban-tin-van-hoa/hai-bai-viet-ve-tac-pham-sam-truyen-ca-cua-lm-lu-y-doan-the-ky-xvii-5979.html
  2. Trăng Thập Tự – Nguyễn Thanh Quang (2023): “Tìm phục hồi bản quốc ngữ 1870 của Sấm truyền ca” https://gpquinhon.org/q/ban-tin-van-hoa/hai-bai-viet-ve-tac-pham-sam-truyen-ca-cua-lm-lu-y-doan-the-ky-xvii-5979.html
  3. Sấm truyền ca://www.vanthoconggiao.net/2023/02/ban-chep-tay-sam-truyen-ca.html
  4. Bùi Công Thuấn: “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan & Những giá trị văn chương”, https://vanhoadatmoi.net/tac-pham/sam-truyen-ca-cua-lu-y-doan-nhung-gia-tri-van-chuong-bui-cong-thuan.html
  5. Đào Quang Toản: “Linh mục Louis Đoan và Sấm truyền ca” https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/linh-muc-louis-doan-v-sam-truyen-ca/#:~:text=Louis%20%C4%90oan%20l%C3%A0%20v%E1%BB%8B%20linh,sai%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20Ph%C3%A1p%20l%C3%BAc%20%C4%91%C3%B3.
  6. Lm Phaolô Phạm Quốc Túy (2023): “Hiếm muộn/son sẻ” https://giaophanphucuong.org/bai-viet/tu-ngu-kinh-thanh/hiem-muon-son-se-chua-nhat-iv-mua-vong-nam-b-lc-12638-tu-ngu-kinh-thanh
  7. Vũ Đoàn (2021): “Sấm truyền ca, tập thơ lục bát diễn nôm Kinh Thánh”, https://baophapluat.vn/sam-truyen-ca-tap-tho-luc-bat-dien-nom-kinh-thanh-post408170.html

 

* TS. Đặng Quốc Minh Dương
Tài liệu tọa đàm Sấm truyền ca (1670) của linh mục Lữ Y Đoan (1608-1678)