Vị trí Sấm truyền ca của linh mục Louis Lữ Y Đoan (1613-1678) trong truyền thống văn học Nôm

15/10/2025 225 lượt xem

Tóm tắt: Khởi nguồn nền văn học chữ Nôm từ thế kỷ XIV, trải qua ba thế kỷ, đến tác phẩm Sấm truyền ca của Linh mục Lữ Y Đoan (1613-1678) ghi nhận sự phát triển vượt bậc. Bài viết tập trung phân tích diện mạo văn bản và các phương diện dung lượng, nội dung và nghệ thuật tác phẩm. Định hướng khảo sát các đặc điểm hình thức thể loại, nghệ thuật ngôn từ và mối quan hệ giữa “truyền” và “ca”; xác định khả năng diễn ca, truyền giáo, Nôm hoá, Việt hoá, tâm linh hoá, đại chúng hoá giữa Sấm truyền ca so với bản văn Kinh thánh. Nhấn mạnh giá trị, vị thế, ý nghĩa thi phẩm Sấm truyền ca trong tiến trình phát triển văn học Nôm, thơ Nôm và thơ Nôm trường thiên (thơ Nôm, phú Nôm, vãn ca, ngâm khúc, truyện thơ, hát nói, ca kịch)…

Từ khoá: Lữ Y Đoan, Sấm truyền ca, chữ Nôm, văn học Nôm

 

  1. Mở đầu

Cho đến nay, không kể những phần tàn khuyết chưa tìm lại được, về cơ bản di sản văn bản Sấm truyền ca của Linh mục Lữ Y Đoan (1613-1678) đã được in lại đầy đủ, giúp công chúng độc giả rộng đường tiếp cận, giúp học giới có tài liệu nghiên cứu và góp phần lưu trữ, bảo tồn văn bản cho hậu thế[1]. Lược qua các vấn đề tác giả, nguồn gốc văn bản Nôm[2], quá trình phiên âm, truyền bản[3], khảo dị, khảo sát dị bản và xác định bản trục[4], đều đã được tổng kết chuyên sâu[5],… chúng tôi tập trung vào việc xác định các đặc điểm nội dung, nghệ thuật và nhấn mạnh vị trí văn học sử của Sấm truyền ca trong dòng chảy loại hình thơ Nôm dân tộc.

 

  1. Sấm truyền ca nhìn từ hệ hình văn học chữ Nôm

Trên thực tế, có thể nhận diện văn học thời trung đại theo hai dòng thơ văn chữ Hán và thơ văn Nôm và đều đạt thành tựu rực rỡ. Càng về sau này vai trò chữ Nôm và sáng tác Nôm càng trở nên quan trọng hơn. Nhìn tổng quát, nếu các sáng tác bằng chữ Hán thiên về quan điểm chính thống thì tác phẩm Nôm lại hướng dến dân tộc và dân tộc hoá, coi trọng tầng lớp bình dân và tiếp thu nguồn tục ngữ, ca dao và lời ăn tiếng nói thường ngày của người dân lao động.

Về sự kiện Nguyễn Thuyênlàm thơ đuổi cá sấu được coi là tác phẩm văn học Nôm đầu tiên[6], sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Nhâm Ngọ (1282)… Mùa thu, tháng 8… Bấy giờ có cá sấu đến sông Lô. Vua sai Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho là việc này giống như việc của Hàn Dũ, bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc ngữ. Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy”[7]. Bởi Hàn Thuyên là người đầu làm thơ Nôm luật Đường nên đời sau còn gọi thơ Nôm luật Đường thi là Hàn luật.

Di sản các sáng tác thơ văn chữ Nôm trước Sấm truyền ca (1670) của Lữ Y Đoan có thể kể đến tên tuổi những Huyền Quang (1254-1334) với Vịnh Vân Yên tự phú, Trần Nhân Tông (1256-1308) với Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca; Nguyễn Trãi (1380-1442) với Quốc âm thi tập, Lê Thánh Tông (1442-1497) và hội Tao đàn với Hồng Đức quốc âm thi tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) với Bạch Vân quốc ngữ thi tập, Hoàng Sĩ Khải (thế kỷ XVI, năm 1544 giữ chức Thượng thư Bộ Hộ) với Tứ thời khúc vịnh, Phùng Khắc Khoan (1528-1613) với Lâm tuyền vãn, Đào Duy Từ (1572-1634) với Ngọa Long cương vãn, Tư Dung vãn…; còn giai đoạn sau này là những Nguyễn Gia Thiều và Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Huy Tự và Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương…

So với các tác phẩm Nôm trước đây, hệ thống từ vựng Nôm trong Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan phải vươn tới thuyên thích, thông diễn, diễn dịch, Việt hoá nhiều khái niệm, từ ngữ, điển tích Công giáo trong Thánh Kinh. Học giả Nguyễn Văn Trung đã so sánh, khảo sát và hệ thống hoá nguồn từ vựng Nôm trong Sấm truyền ca thành các dạng từ loại tên riêng, tên người, tên đất, tên vật, từ cổ và dấu tích, điển tích, thành ngữ, tục ngữ, ca dao[8]… Xác định vai trò, ý nghĩa hệ thống từ tiếng Việt được tàng trữ, tích hợp, thể hiện trong Sấm truyền ca, Đức Giám mục Matthêô Nguyễn Văn Khôi nhấn mạnh: “Mục đích của ấn bản đối chiếu này là để tìm lại bản văn gần nhất với bản Quốc ngữ năm 1820 của ông Phan Văn Cận. Thực vậy, trải qua thời gian, bản Quốc ngữ này đã được chép tay sao lại nhiều lần, không tránh khỏi đã có một số chỉnh sửa, sai sót, đang khi chính bản chép tay gốc đã bị thất lạc cho đến nay vẫn chưa tìm thấy. Chữ Nôm và Quốc ngữ đều là những ký tự giúp đọc tiếng Việt, viết khác nhau nhưng phát âm thì giống nhau. Tìm được khuôn mặt bản Quốc ngữ năm 1820 cũng có nghĩa là đã đọc được bản chữ Nôm trước năm 1820”[9]…

  1. Sấm truyền ca nhìn từ cảm hứng sáng tác và truyền thông

Với tất cả các thể chế vương quyền và thần quyền, triều chính và tôn giáo cũng như mọi trào lưu tư tưởng và cách mạng xã hội ở mọi thời đều cần tới hoạt động truyền thông, hoằng pháp, mở rộng ảnh hưởng tới mọi tầng lớp quần chúng. Ngay khi chữ Nôm xuất hiện ở Việt Nam, bên cạnh dòng văn chương xã hội, ngay đó đã sớm định hình bộ phận văn học thần quyền, nổi bật trong đó có văn học Phật giáo thời Lý – Trần và Hậu Lê mà tác phẩm Sấm truyền ca (1670) của Linh mục Lữ Y Đoan cũng không ra ngoài thông lệ.

Thực tế lịch sử cho thấy Phật giáo du nhập vào Việt Nam sớm và cũng sớm định hình dòng văn học Phật giáo bằng chữ Hán, còn dòng văn học Phật giáo chữ Nôm lại xuất hiện muộn vào giai đoạn Thịnh – vãn Trần (thế kỷ XIV). Có thể là ngẫu nhiên hay tất định khi những tác phẩm đầu tiên lại nhằm tuyên truyền, ngợi ca, hoằng dương, tôn vinh Phật giáo. Với Huyền Quang trong Vịnh Vân Yên tự phú là tâm thế hoà hội, hoà đồng, tìm về thiên nhiên Phật và “cõi vô tâm”[10]; với Trần Nhân Tông là sự nhấn mạnh nội dung “phú ở cõi trần vui đạo”, sắc thái “được thú lâm tuyền thành đạo” và mối quan hệ giữa bản ngã (thân) – chủ thể con người với cảnh giới tự nhiên[11]. Một trường hợp khác, danh nhân Nguyễn Trãi là hiện thân cho bước chuyển thời đại Phật – Nho giáo vào khoảng cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV vẫn vọng tưởng về nhà Phật với nhiều từ ngữ trong thơ Nôm:

Bụt, đất Bụt, kiếp, duyên, nghiệp, nghiệp ba thân, hương lửa ba thân, tượng thấy ba thân; chiền (chùa), chùa chiền, Tây phương, Như Lai; tâm, vô tâm, vô sự; trai thiền, rừng thiền, thiền định; tự tại, cơ mầu; ẩn, ẩn dật, đại ẩn, ẩn cả lâm tuyền… Trong thực chất, nỗi niềm “tiêu sái lòng ngoài thế”, tự đặt mình ra ngoài vòng danh lợi dường như đã là một chất sống trong tâm tư Nguyễn Trãi và có sự gặp gỡ, thông kênh với cái bình lặng, an nhiên, siêu thoát của nhà Phật. Do đó, nhiều khi những yếu chỉ tư tưởng Phật giáo như ẩn cả (đại ẩn, đại thừa) hay là tiên, bụt cũng chỉ được coi là cái cớ, là phương tiện, một phương diện trong tương quan với chủ thể đang truy tìm những giây lát “tiêu sái”, “thú an nhàn”, “lòng thơm”[12]…

Với trường hợp Sấm truyền ca của Linh mục Lữ Y Đoan, toàn bộ tác phẩm căn bản mô phỏng theo sát nội dung và cấu trúc nguyên tác Kinh Thánh. Nói khác đi, bản thân Kinh Thánh đã là di sản văn hoá tinh thần khải huyền Công giáo và loài người thì Sấm truyền ca chỉ giới hạn ở Việt Nam, trước đây là những người hiểu biết chữ Nôm, đọc được chữ Nôm và chỉ từ năm 1820 mới có bản phiên âm quốc ngữ của Phan Văn Cận. Trên thực tế, tự thân Kinh Thánh đã tiềm tàng giá trị khai sáng nhận thức tư tưởng nhân văn, triết học, thần học và năng lực truyền cảm, cho đến Sấm truyền ca thể hiện là một phương thức truyền bá, giáo hoá, chinh phục, mở rộng, nới rộng, lan toả tinh thần Công giáo trong cộng đồng người Việt. Chủ đích này được Linh mục Lữ Y Đoan thể hiện ngay từ tám câu thơ Vào đề có ý nghĩa “Lời tựa”, “Đề tựa”, “Đề từ”, “Lời nói đầu”, “Giáo đầu”, “Mở đầu”, “Toát yếu”, “Khơi dẫn”, nằm ngoài nội dung văn bản Kinh Thánh:

Ngày ngày trước mắt chúng sinh,

Chữ đời, chữ đạo phân minh đôi đường.

Xưa nay trong kiếp vô thường,

Thấy điều vân cẩu mà thương nhơn phàm.

Loài người từ thuở A-dang,

Đua nhau xây dựng “mộng ham làm trời”.

Một pho cổ sấm ra đời,

Chứng minh vạn đại những lời do Thiên.

Tám câu thơ Vào đề mở đầu của Linh mục Lữ Y Đoan nhằm cắt nghĩa, giới thuyết, định hướng cho độc giả “chúng sinh” nắm bắt thực tại đôi đường Đời – Đạo; sự ý thức tương quan nhận thức về kiếp người “vô thường”, cõi đời “vân cẩu”, “nhân phàm”; rồi kể từ A-đam[13] là người thứ nhất trong loài người xuất hiện cùng muôn người tiếp nối nuôi mộng “làm trời” và chỉ tới khi Kinh Thánh “cổ sấm ra đời” thì mới có thể đạt tới sự thấu triệt “Chứng minh vạn đại những lời do Thiên”…

Cho đến cuối Quyển I- Tạo đoan kinh lại cũng có thêm phần trữ tình ngoại đề Lời kết của Lữ Y Đoan:

Tích xưa cho thấy vấn đề:

Sự đời, sự đạo đi kề bên nhau,

Đời thì danh lợi xôn xao,

Đạo thì trầm lặng để cầu ý ngay.

Thế gian phải có một ngày,

Hầu coi thắng lợi về tay ông Trời. (Câu 3599-3604)

Sáu câu thơ lục bát cuối quyển Tạo đoan kinh cũng không nằm trong văn mạch Kinh Thánh, thể hiện là lời tác giả, người truyền bá, người đặt truyện, người thuật truyện “Tích xưa…”, kể đủ “Sự đời, sự đạo…” mà kết cuộc khải hoàn tất định sẽ là “Hầu coi thắng lợi về tay ông Trời”…

Đồng thuận với việc xác định chủ đích truyền bá, lan toả của Sấm truyền ca trong đại chúng người Việt và cộng đồng Công giáo người Việt, Simong Phan Văn Cận xác nhận: “Thầy làm sách này cho hàng văn Nho học để biết rõ đạo Chúa Giêsu”[14]; Nguyễn Văn Trung dẫn giải từ căn rễ lịch sử – văn hoá đương đại, đương thời: “Ngài đúc kết ngắn gọn theo cảm nghĩ và hiểu biết của dân tộc Á Đông, vì thế người ta nhận thấy bổn Sấm truyền ca là một hòa đồng văn hóa Á Đông và Kitô giáo… Hạng văn nho thời đó mến phục và thích đọc tác phẩm này, cũng có một số người trí thức đã xin theo Công giáo (…). Ðể giới thiệu Sấm truyền ca như một nỗ lực Việt hóa Ðạo Thiên Chúa ở thuở ban đầu (bằng cả hai nền văn học bác học dựa trên Nho học và văn hóa dân gian, dựa trên lối diễn tả bằng văn vần lục bát)”[15]; Matthêô Nguyễn Văn Khôi xác nhận từ tương quan sinh thành thể loại: “tác phẩm như một công trình “hội nhập văn hóa” đi trước thời đại của một linh mục Việt Nam, nhằm giới thiệu Thánh Kinh cho người Việt đương thời bằng chính chữ viết của họ (lúc ấy là chữ Nôm), với những nét văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam”[16]; Linh mục Trăng Thập Tự ghi nhận yêu cầu Việt hoá và Đông phương hoá: “Các chứng từ cho biết tác phẩm này trình bày giáo lý đạo Chúa theo triết học và văn hóa phương Đông nên được nhiều bà con lương dân yêu thích và chép lại từ thuở còn lưu truyền bản chữ Nôm. Do đó, lắm khi có thể nó đã và đang được những vị giàu tinh thần hiếu cổ bảo tồn nơi các chùa, miếu”[17]; Phạm Xuân Nguyên tiếp tục nhấn mạnh: “Trong lúc các nhà truyền đạo Thiên Chúa đang tìm cách dùng mẫu tự Latin ghi âm tiếng Việt để thuận tiện cho công việc giảng đạo của mình thì có những linh mục người Việt đã tìm cách diễn nôm kinh sách nhà Chúa cho giáo dân dễ nghe dễ thuộc dễ hiểu. “Sấm truyền ca” chính là trong ý đồ đó”[18]… Như vậy, có thể nói Sấm truyền ca đã có sức hấp dẫn, thuyết phục không chỉ với giáo dân mà ngay cả với đông đảo công chúng lương dân, nhà nho, văn nho và người dân nước Việt thuộc hệ hình văn hoá Đông phương.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc xuất hiện Sấm truyền ca là một thành công trong hoạt động truyền thông với công đồng người Việt và là đóng góp quan trọng vào di sản văn học Nôm thì lại không dễ nhận được sự đồng thuận của một bộ phận thầy cả vốn đề cao tính thiêng của Kinh Thánh, không dễ chấp nhận bản dịch,/ chuyển ngữ,/ chuyển thể,/ diễn nôm,/ diễn ca. Về điều này, Simong Phan Văn Cận sớm nhận ra tính chất lưỡng đầu, lệch pha trong tiếp nhận tác phẩm; phía chính thống kinh điển nghi ngại khả năng vi phạm cấm kỵ, trong khi phía nhân gian đại chúng lại hoan hỷ đón chào cả ở bản chữ Nôm cũng như yêu cầu quảng bá chữ quốc ngữ: “Sách này của thầy bị nhiều thầy cả Tây dang hồi đó không ưng vì nó lai sách đạo Nho và đạo Phật, nhưng bổn đạo rất ưa và chép lại để đọc…  Sau đó cơn bắt đạo nổi lên, có mấy gia thất chạy vào miền Nam ẩn lánh, cho đến năm 1810, tại Cái Mơn được biết có sách này, nhưng ít người đọc được chữ Nôm. Ðến năm 1816 nhiều thầy cả dạy tôi chịu khó viết ra chữ quốc ngữ, tôi vưng lời làm như vậy” (1820)[19]… Đến thời hiện đại, thêm một lần Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn xác nhận hiện trạng khác biệt trong cách đánh giá, tiếp nhận tác phẩm: “Lúc nhà in Công giáo của địa phận Saigon mới thành lập tại nhà thờ Tân Ðịnh (Saigon), nhiều giáo hữu và linh mục nhiệt tâm muốn xuất bản tác phẩm này. Nhưng qua nhiều lần thảo luận không đi đến kết quả, vì hai lý do: Vì chi phí quá nặng đối với nhà in còn nghèo, số vốn xuất bản không được đức giám mục sở tại trợ cấp. Kế đó, do ý kiến các linh mục Pháp không đồng ý, vì e bản dịch Sấm truyền ca không lột hết ý nghĩa của Kinh Thánh bản Vulgata” (1956)[20]… Cần nói thêm, các nhà làm sách đương thời cũng chú ý tiếp nhận, tập trung chỉnh lý, nhuận sắc một số từ ngữ, chi tiết câu chữ, tên riêng, địa danh, khái niệm, thuật ngữ, gia tăng đánh số, chú thích sao cho “dựa sát Kinh Thánh” hơn. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Trung đã đi sâu khảo sát, phân tích văn bản và xác nhận: “Có nhận giả thuyết cho rằng các thừa sai phê phán hoặc cấm đọc Sấm truyền ca, nhưng sách vẫn lưu truyền, được giáo dân hay người ngoài Công giáo ưa thích đọc, mặc dầu thái độ phê phán, cấm đoán của thừa sai, mới hiểu tại sao linh mục Phao-lồ Qui, nổi tiếng về thông thái đã nghĩ đến việc sửa chữa lại bản của Lữ Y Ðoan cho hợp với “chính thống” hơn về nội dung và dịch tên riêng theo phiên âm… để có thể in và phổ biến công khai Sấm truyền ca”[21]… Theo suy luận của chúng tôi, sự việc Sấm truyền ca không được ấn hành chủ yếu thuộc lý do kinh phí, bởi lẽ “nhiều giáo hữu và linh mục” là chủ sở hữu, có sự hiểu biết thời cuộc, thấy rõ tầm quan trọng của bộ sách và nhu cầu chính đáng của người đọc đương thời, còn những ý kiến khác chỉ là gián tiếp, không đủ áp lực ngăn cản việc in ấn.

Cho đến nay, học giới đã thống nhất nhận thức về giá trị Sấm truyền ca trên tất cả mọi phương diện di sản lịch sử văn tự, văn hoá, văn học và truyền thông Công giáo. Việc nhận diện Sấm truyền ca nhìn từ cảm hứng sáng tác và truyền thông chủ yếu có ý nghĩa soi sáng sự ra đời một tác phẩm văn học đặc biệt gắn với một thể loại đặc biệt, một hiện tượng văn hoá đột khởi gắn với thời kỳ mở đầu lịch sử tiếp nhận ảnh hưởng và giao thoa, giao lưu văn hoá Đông – Tây…

  1. Vị trí Sấm truyền ca nhìn từ lịch sử văn học chữ Nôm

Vị trí của mỗi tác giả, tác phẩm trong lịch sử văn học thường được định vị trên các tiêu chí đóng góp về ngôn ngữ nghệ thuật, khả năng phản ánh hiện thực và tác động về thể loại. Với Sấm truyền ca, ngay chỉ với phần di văn còn lại, cũng cho thấy nhiều vấn đề thực sự ý nghĩa.

Trước hết, về ngôn ngữ nghệ thuật, lời thơ trong Sấm truyền ca có sự tiến bộ, cập nhật, phát triển, đưa đến cái mới cho hệ từ vựng tiếng Việt. Có ba lý do giải thích điều này. Thứ nhất, Kinh Thánh là văn bản cổ nhưng thuộc hệ hình văn xuôi tự sự, thế tất có khả năng bao quát, phản ánh mọi góc cạnh đời sống con người mà Sấm truyền ca nhất thiết phải chuyển tải, nương theo, tuân thủ. Thứ hai, so với tất cả các tác phẩm vịnh, phú, ca, vãn, khúc, thơ Nôm Đường luật trước đây đều thuộc loại hình thơ ca trữ tình và xoay quanh tư tưởng Tam giao (Nho – Phật – Đạo) trong quỹ đạo Đông Á thì đến Sấm truyền ca lần đầu tiên phải đảm đương chức năng tự sự, dùng thơ lục bát chuyển tải nội dung Kinh Thánh. Thứ ba, Sấm truyền ca phải xử lý, tìm ra những từ ngữ, hình ảnh, biểu tượng mang nghĩa đồng nhất hoặc đồng dạng, tương đương, nhờ đó mở rộng hệ từ vựng tiếng Việt mà trước đây chưa từng có. Về điều này, học giả Nguyễn Văn Trung đã bước đầu phân tích các loại văn bản Sấm truyền ca và xác lập các loại từ cổ, từ cổ đã hoá tử ngữ (chòi mòi), từ cổ còn được dùng đến nay (cả và, khau trầu, sư sãi); loại thành ngữ, tục ngữ, ca dao (Đèo heo hút gió, Cơm ăn áo mặc, Rẽ đàn tan nghé); loại điển tích, lối nói tư tưởng Đông Á (Chiến quốc, Tô Tần, Cửu trùng) và dấu ấn văn chương nghệ thuật đậm sắc thái Việt (Canh gà vừa gáy hừng đông,/ Nàng về sống cảnh góa chồng như xưa  – Câu 2511-2512)[22] và Matthêô Nguyễn Văn Khôi xác định: “Đang khi tiếp tục truy tìm nguyên bản bằng chữ Nôm của tác phẩm cũng như bản văn bằng Quốc ngữ đầu tiên của ông Phan Văn Cận, việc xác định được khuôn mặt gần nhất với bản Quốc ngữ đầu tiên đã là một tin vui. Đàng khác những chứng tích trong hai bản chép tay cho thấy những người làm công việc sao chép đều có cung cách hết sức trân trọng nguyên bản. Từ đó, ta có thể suy ra rằng độ chênh lệch giữa nguyên bản chữ Nôm 1670 và bản Quốc ngữ 1820 không đáng kể… Việc tìm lại bản văn Quốc ngữ đầu tiên của Sấm truyền ca cũng sẽ cho thấy mức độ phát triển và khả năng diễn tả trong sáng và đầy tính nghệ thuật của Quốc ngữ cách nay hơn 200 năm (1820-2023) và, hơn nữa, của chữ Nôm cách đây hơn 350 năm (1670-2023). Như thế, Sấm truyền ca có thể được coi là một tác phẩm văn chương đáng liệt kê vào danh sách di sản văn học nghệ thuật Việt Nam và góp phần làm phong phú kho tàng văn học nước nhà”[23]…

Trên phương diện phản ánh hiện thực, so với nhiều bài ca vịnh và thơ Đường luật Nôm trước đây thường hướng về vịnh sử, đề vịnh thiên nhiên, tiễn tặng và xướng hoạ thì Sấm truyền ca lại nhất khí từ đầu đến cuối theo một cốt truyện, tuyến nhân vật, sự kiện và nguồn cảm hứng. Các tác phẩm thơ Nôm trước đây thiên về từng mạch cảm xúc trữ tình thì Sấm truyền ca bao quát cả hành động, chi tiết và sự vận động của các tính cách, đan xen các hình thức tự sự, kịch, có miêu tả hình ảnh, diễn tả trạng thái tâm lý và cả đối thoại, độc thoại, bình phẩm. Xét về dung lượng, Huyền Quang với Vịnh Vân Yên tự phú có 104 câu thơ Nôm trường đoản cú; Trần Nhân Tông có Cư trần lạc đạo phú gồm 140 câu thơ Nôm trường đoản cú kèm một bài chữ Hán tứ tuyệt và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca gồm 90 câu thơ Nôm thể 5 chữ kèm một bài chữ Hán tứ tuyệt; Hoàng Sĩ Khải với Tứ thời khúc vịnh – Mùa thu chỉ còn 22 câu thơ Nôm lục bát. Đến như bậc thi bá Phùng Khắc Khoan với thi phẩm chữ Nôm nhan đề Lâm tuyền vãn cũng chỉ vẻn vẹn có 185 câu lục bát, trong đó tập trung giới thiệu, miêu tả cách vun trồng và công dụng của các loại hoa (lan, huệ, cúc…), rau quả (dưa, cà, cải, bí…), gia súc gia cầm (trâu, bò, lợn, gà…) được nuôi trồng phổ biến ở vùng nông thôn Tương Dương (Nghệ An), nơi tác giả từng bị lưu đày và phác vẽ niềm tâm sự của bậc trọng thần từng trải trong giới quan trường, đang sống cuộc đời nhàn tản như một đạo sĩ giữa chốn rừng suối: Vô sự là tiểu thần tiên,/ Gẫm xem ngoại thú lâm tuyền cực vui[24]…

Tiếp đến Sấm truyền ca lại là tác phẩm đồ sộ “gồm năm quyển đầu của bộ Kinh Thánh Cựu ước”, trong đó riêng Quyển I- Tạo đoan kinh gồm 3604 câu thơ và phần còn lại của Quyển II- Lập quốc kinh gồm 1632 câu thơ, cộng chung: 5236 câu thơ Nôm lục bát, trong khi Truyện Kiều của Nguyễn Du (1765-1820) xuất hiện hơn một trăm năm sau cũng chỉ có 3254 câu thơ. Điều cần chú ý ở đây là Sấm truyền ca đóng vai trò mở đầu, khơi nguồn cho dòng thơ Nôm diễn ca trường thiên (tiếp nối Nguyễn Huy Tự có truyện thơ Hoa tiên diễn từ Hoa tiên ký, Nguyễn Du với Truyện Kiều diễn từ Kim Vân Kiều truyện, tác giả khuyết danh với Nhị độ mai diễn từ Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai và thêm nhiều truyện thơ Nôm bình dân), khác biệt với loại truyện thơ Nôm do người Việt sáng tạo cốt truyện (Phạm Thái với Sơ kính tân trang, Nguyễn Đình Chiểu với Truyện Lục Vân Tiên và những Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm với Chinh phụ ngâm, Nguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm khúc, Cao Bá Nhạ với Tự tình khúc, Lê Ngọc Hân với Ai tư vãn)… Bên cạnh đặc tính truyền thông, Sấm truyền ca không nhằm phản ánh hiện thực xã hội Việt Nam và chịu sự quy định của văn bản nguồn, chấp nhận chuyển tải nội dung lịch sử thánh tích từ Kinh Thánh và cố gắng Việt hoá, chú trọng vận dụng tâm thức Việt, cảm quan người Việt, văn hoá Việt và ngôn từ tiếng Việt nhằm giúp cộng đồng người Việt tiếp nhận tác phẩm một cách dễ nhớ dễ thuộc, thuận lợi và hiệu quả nhất. Trên tổng thể, Sấm truyền ca đồ sộ của Lữ Y Đoan có ý nghĩa như một kiểu sử ca, thánh ca Công giáo,  thực hiện du nạp, chuyển hoá văn hoá Âu – Tây, vừa kiến tạo truyền thống diễn ca Nôm Việt Nam vừa bắc nhịp cầu giao lưu, hội nhập văn hoá Việt Nam với thế giới phương Tây và quan hệ Đông – Tây…

Thêm nữa, Sấm truyền ca chuyển dẫn nhiều từ ngữ, thuật ngữ, khái niệm hiện đại, vượt qua vài ba thế kỷ không mấy sử dụng trong dòng văn học chữ Nôm mà đến thời hiện đại ngày nay lại thông dụng (không gian, đại lục, đại dương, địa cầu, tự cường, chu kỳ, giai tầng, hành tinh, nhiệt quang, tài năng, điều hành, soi sáng, hân hạnh, căng thẳng, thuật số, thặng dư, phố phường, địa phương, nền tảng, dự trù, điệp viên, yêu cầu, công bằng, bảo lãnh, chủ quyền, thực hành, ngôn ngữ, thông ngôn, chuyển ngữ, thổ ngữ, vấn đề, thắng lợi, hồ sơ, dân sự, bảo tồn, tương lai, mưu cầu, thổ cư, sự nghiệp, bảo tồn, chủng tộc, đặc quyền, bản xứ, quyền lợi, lợi quyền, kinh doanh, phá sản, giải quyết, phúc trình, chính trường, nền tảng, kế hoạch, chính sách, khởi công, giải phóng, cắm trại, nhân lực, lãnh đạo, tham mưu, thảo luận, đất đai, toàn dân, lòng dân, dân nguyện, di tản, thi hành, chứng minh, bảo toàn, thịnh vượng, dự phòng, trưng bày, điều hành, tổ chức, dân tộc, hoàn cầu, hệ trọng, đồng bào, xét tra, quốc giáo, v.v…)… Bàn về điều này, nhà nghiên cứu Trần Thanh Đạm đoán định: “Những người am hiểu lịch sử văn học cổ điển dân tộc có thể nhận thấy phong cách ngôn ngữ văn chương của Sấm truyền ca khó có thể là tác phẩm của thế kỷ XVII, đồng thời với Thiên Nam nữ lục hay Tư Dung vãn, Ngoạ Long cương vãn của Đào Duy Từ là những tác phẩm mà tính chất cổ xưa của ngôn ngữ rõ rệt hơn rất nhiều. Ngôn ngữ của Sấm truyền ca rõ ràng đã mang nhiều dấu vết nhuận sắc của thế kỷ XIX, thậm chí của thế kỷ XX (…). Khó có thể nói được rằng đó là ngôn ngữ văn chương quốc âm của thế kỷ XVII. Những từ ngữ như “vấn đề”[25], “thắng lợi”[26] quá mới, chắc là của người đời sau”[27]… Theo thiển ý chúng tôi, các tác phẩm Nôm đương thời (kể cả thế kỷ sau này với Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân trang của Phạm Thái, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu) đều nằm trong quỹ đạo truyền thống văn hoá Hán học – Nho giáo Á Đông nên không phát triển hệ từ vựng kiểu phương Tây. So với hầu hết các tác phẩm Nôm và diễn Nôm đương thời (và sau này), có thể khẳng định Sấm truyền ca biệt ra một lối riêng, tiếp nhận nguồn mạch văn hoá phương Tây riêng biệt, xác lập hệ từ vựng tiến bộ vượt trội, đi trước thời đại. Như vậy, việc dịch và diễn Nôm Sấm truyền ca theo sát nội dung Kinh Thánh vượt lên cả nhiệm vụ truyền giáo, đồng thời còn có ý nghĩa khai mở dân trí, đời sống tư tưởng và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Thêm nữa, việc diễn Nôm Kinh Thánh thành Sấm truyền ca theo thể thơ lục bát vừa phải đáp ứng theo sát văn mạch nguyên tác vừa cần tuân thủ câu chữ, vần luật thơ sáu tám nên không thể dễ dàng thay đổi từ ngữ. Trên tổng thể, có thể thấy đây là hệ từ vựng biểu nghĩa trong Kinh Thánh có ý nghĩa khai sáng cho văn hoá, văn minh nhân loại, đặt nền móng cho các ngành giáo dục, luật pháp, tôn giáo, chính trị học, kinh tế học, khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và các giá trị nhân văn, tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái, sau này phát triển trong thời Phục hưng, Khai sáng phương Tây thế kỷ XVIII và truyền bá mạnh mẽ ở Việt Nam gắn với phong trào Canh tân, Tân thư, Đông du, Đông Kinh nghĩa thục giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX (Nguyễn Trường Tộ, 1830?-1871; Nguyễn Lộ Trạch, 1852-1895; Phan Bội Châu, 1867-1940; Phan Châu Trinh, 1872-1926…) cho tới ngày nay. Vấn đề cần tiếp tục thảo luận là vì sao và nhờ đâu mà Linh mục Lữ Y Đoan có thể tìm, chọn, xác lập được nguồn từ vựng tiếng Việt tương đương trong quá trình diễn Nôm. Xin trông chờ, hy vọng các bậc thức giả, các nhà ngôn ngữ học.

Trên phương diện thể loại, Sấm truyền ca có ý nghĩa tự thân là truyện thơ lục bát trường thiên với yêu cầu nghiêm nhặt càng gần, chuẩn nguyên tác càng tốt. Tuy nhiên, đây là việc chuyển dịch và đồng sáng tạo cực kỳ khó mà Lữ Y Đoan đã vượt qua, ghi dấu ấn khởi đầu quan trọng trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam. Bởi lẽ cốt truyện tự sự Kinh Thánh đặc biệt khó với tuyến nhân vật, sự kiện, cốt truyện phong phú, thách đố ngay cả việc dịch xuôi chứ chưa nói dịch thơ, nhất là thơ lục bát vốn giàu âm diệu, đòi hỏi vần luật vừa chặt chẽ vừa uyển chuyển, vừa biểu nghĩa vừa hài hoà âm hưởng, dễ nhớ dễ thuộc. Vừa thực hiện thử nghiệm vừa hoàn thiện, hoàn chỉnh, hướng đến hiệu quả thẩm mỹ tối ưu, Sấm truyền ca có nhiều câu lục bát khế hợp với nguyên tác, đạt tới sát đúng, nhuần nhuyễn, trong sáng. Chẳng hạn các đoạn:

– Cuộc đời dầu gặp gió mưa,

Bàn tay Thượng đế giúp chưa lâm nàn.

(Câu 1259-1260)

– Ðường trần kẻ lại người qua

Tháng ngày chất nặng tuổi già Bá-lâm.

(Câu 1175-1176)

– Canh gà vừa gáy hừng đông,

Nàng về sống cảnh góa chồng như xưa.

( Câu 2511-2512)

– Chăn nuôi, trồng tỉa dễ dàng,

Cả con, cháu, chắt vững vàng sinh cư.

Anh em thấy rõ thực hư,

Quyền hành tôi có đã như thế nào.

(Câu 3151-354)

Tuy nhiên, ở đây cũng có nhiều câu lọn nghĩa nhưng chưa thật chuẩn nghệ thuật lục bát, xuôi thuận ở cặp câu này lại gặp khó ở cặp câu khác:

– Tạo nên một gái má hồng,

A-dong thức dậy thấy lòng nôn nao:

Thịt xương nầy chẳng bởi đâu,

Nhưng được nặn nhào bởi thịt xương tôi.

(Câu 101-104)

– Rần rần bầy của La-cương,

Cũng vừa lùa tới còn đương rộn ràng.

Gia-cước nhận rõ người thân,

Đá ngăn miệng giếng, tay chàng đẩy ra.

(Câu 1669-1672)

– Bao giờ du mục dừng chơn,

Từ đây lần tới thảo trường phía đông.

Đến kỳ sinh nở, La-cương,

Khó khăn, bà mụ hết lòng lo toan.

(Câu 1277-1280)…

Điều này có lý do bởi nguyên tác Kinh Thánh là tác phẩm tự sự đồ sộ, tinh lọc, tích hợp, chứa chở cả kho tri thức lịch sử nhân loại và đậm đặc các sắc thái trữ tình, tính kịch, đan xen nhiều lời đối thoại, tranh luận, giảng giải. Nhìn từ hình thức thể loại, có thể xem Sấm truyền ca tựa như một tác phẩm kịch thơ Nôm lục bát. Thêm nữa, những quy phạm địa – văn hoá liên quan tên người, địa danh, sự kiện trong nguyên tác thuộc loại hình ngôn ngữ đa âm tiết, nối âm, khác biệt tiếng Việt đơn âm, nên khi chuyển dịch văn xuôi sang văn xuôi còn khả dĩ mà chuyển văn xuôi sang thơ thì thật là thử thách thiên nan vạn nan.

Xác định vị trí Sấm truyền ca từgóc nhìn so sánh đồng đại, Matthêô Nguyễn Văn Khôi phân tích và nhấn mạnh: “Đối với người Công giáo, việc phát hành ấn bản đối chiếu này cũng cho thấy đây là một tác phẩm hay và có giá trị về phương diện đạo. Việc đối chiếu giữa các bản chép tay Tạo đoan kinh rồi ra cũng còn gợi lên sự đối chiếu giữa Sấm truyền ca với Truyện Kiều. Sấm truyền ca ra đời trước Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du đến 150 năm. Cả hai có thể có nhiều điểm tương đồng. Thi hào Nguyễn Du mượn một câu chuyện trong kho tàng văn học Trung Hoa để làm bối cảnh xây dựng Truyện Kiều, còn linh mục Lữ Y Đoan đã lấy câu chuyện Thánh Kinh để làm bối cảnh xây dựng Sấm truyền ca. Cả linh mục Lữ Y Đoan và thi hào Nguyễn Du đều là những nhà uyên thâm Nho học, tác phẩm của hai vị đều phản ánh sâu đậm nét văn hóa này, tuy nhiên một vị nhìn từ lăng kính Phật giáo, một vị tiếp thu qua nhãn giới Kitô giáo. Truyện Kiều là chứng nhân thi ca đầu thế kỷ XIX, Sấm Truyền Ca là chứng nhân của tiếng Việt cuối thế kỷ XVII”[28]… Đặt trên góc nhìn tương quan thể loại thơ trường thiên chữ Nôm thì thấy Sâm truyền ca gần với hệ hình truyện thơ Nôm có nguồn gốc Trung Quốc (bao gồm cả truyện Nôm bác học như Nguyễn Huy Tự với Hoa tiên, Nguyễn Du với Truyện Kiều và tác giả bình dân – khuyết danh với Nhị độ mai, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Hoàng Trừu, Lý Công). Sự khác biệt cơ bản ở chỗ, trong khi yêu cầu nghiêm nhặt đặt ra cho Sấm truyền ca là tính chuẩn mực, trung thành, theo sát nguyên tác, còn với truyện thơ Nôm lại có thể tái tạo, thêm bớt, lược giản tính tự sự, nhân vật, sự kiện và gia tăng chất trữ tình, tiếng nói ngoại đề, bộc lộ tâm trạng, lời cảm thán, tả cảnh[29]. Tuy cùng là chuyển dịch từ nguyên tác văn bản nước ngoài sang chữ Nôm ghi âm tiếng Việt, cùng chuyển từ văn xuôi sang thơ lục bát, song một bên là dịch – chuyển dịch kiểu sáng tác, hệ hình thể loại, theo sát kho tri thức đồ sộ của nguyên tác vốn là kiệt tác nhân loại, hạn chế tối đa sự tham dự, can thiệp của tác giả và luôn để tâm tới đối tượng độc giả tiếp nhận: “Một pho cổ sấm ra đời,/ Chứng minh vạn đại những lời do Thiên” (Sấm truyền ca); một bên là dịch – phỏng tác, tái tạo từ tiểu thuyết chương hồi tài tử giai nhân, gia tăng tiếng nói chủ thể và không quá quan tâm đến người đọc: “Lời quê chắp nhặt dông dài,/ Mua vui cũng được một vài trống canh” (Truyện Kiều)… Lữ Y Đoan và Nguyễn Du, cả hai đều đóng vai trò “môi giới văn chương”, trong đó Lữ Y Đoan là người khởi động, đi trước một chặng đường dài.

  1. Kết luận

Với tác phẩm Sấm truyền ca, Linh mục Lữ Y Đoan đã là sứ giả Việt Nam đầu tiên bắc cầu văn hoá Đông – Tây, nhà dịch thuật, người “môi giới văn chương”, người kiến tạo thể loại truyện thơ Nôm lục bát in đậm sắc thái truyền thống dân tộc. Tài năng của Linh mục Lữ Y Đoan thể hiện sắc nét ở yêu cầu dung hoà giữa nhiệm vụ chuyển tải trung thành nội dung Kinh Thánh (nhờ đó cung cấp được kho từ vựng tiềm tàng tri thức lịch sử, đạt tới kinh điển, hiện đại, đi trước thời đại) và việc vận dụng nhiều tri thức dân gian, văn hoá dân tộc và tư tưởng Đông Á vào quá trình diễn dịch, sáng tạo Sấm truyền ca (nhờ đó tác phẩm dễ được tiếp nhận, truyền bá, lan toả sâu rộng trong cộng đồng người Việt). Trên phương diện thể loại, Sấm truyền ca vừa là tác phẩm dịch từ Kinh Thánh, vừa là diễn ca, diễn Nôm, chuyển đổi từ loại hình văn xuôi tự sự sang thơ ca, vừa có ý nghĩa tự thân như một truyện thơ Nôm lục bát độc lập, mở đầu dòng truyện thơ Nôm truyền thống dân tộc. Kho tàng di sản Sấm truyền ca đòi hỏi học giới cần tiếp tục truy tìm nguồn văn bản cũng như đi sâu nghiên cứu, khảo sát các phương diện đóng góp văn tự Nôm, các lớp từ vựng, thể thơ lục bát, loại hình tác giả, vai trò dịch giả, loại hình truyện thơ, nghệ thuật ngôn từ, đặc trưng “truyền” và “ca”, quan hệ văn hoá – văn học Đông – Tây và vị trí tác gia, tác phẩm trong truyền thống văn học Nôm và lịch sử văn học dân tộc.

Hà Nội, hè thu 2024

Tài liệu tham khảo

  1. Simong Phan Văn Cận (1820, 2020), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.15.
  2. Trần Thanh Đạm (1993), “Về sách báo của tác giả Công giáo (Thế kỷ XVII-XIX)”, Tài liệu tham khảo. Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr.67.
  3. Linh mục Lữ Y Đoan (1670, 2020), Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 232 trang.
  4. Đặng Thị Hảo (2004), “Nguyễn Thuyên”, Từ điển văn học (Bộ mới). Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.1190-1191.
  5. Matthêô Nguyễn Văn Khôi (2020), “Lời giới thiệu”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.5.
  6. Phạm Xuân Nguyên (2021), Đọc sách cùng bạn: Một truyện thơ cổ có giá trị văn hóa… Nguồn: Báo Dân Việt https://danviet.vn › Thứ ba, ngày 10/08/2021 18:05 PM (GMT+7)… Cập nhật ngày 17/7/2024.
  7. Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn (1956, 2020), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.18.
  8. Quốc sử quán triều Hậu Lê (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II (Hoàng Văn Lâu dịch, chú). Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.47.
  9. Nguyễn Hữu Sơn (2001), “Vịnh Vân Yên tự phú – Nẻo về thiên nhiên Phật và cõi vô tâm”, Huyền Quang – Cuộc đời, Thơ và Đạo (Trần Thị Băng Thanh chủ biên). Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.66-77.
  10. Nguyễn Hữu Sơn (2008), “Tác gia hoàng đế – thiền sư – thi sĩ Trần Nhân Tông”, Nghiên cứu Văn học, số 12, tr.3-21.
  11. Nguyễn Hữu Sơn (2000), “Về cảm quan Phật giáo trong thơ Nôm Nguyễn Trãi”, Tạp chí Văn học, số 6, tr.75-80.
  12. 12. Nguyễn Hữu Sơn (2005), “So sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều từ sự chuyển đổi lại hình và thể loại”, Nghiên cứu Văn học, số 11, tr.27-43.
  13. Nguyễn Hữu Sơn (2012), “Vị thế Phùng Khắc Khoan trong bối cảnh văn hóa Đại Việt thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII”, Họ Phùng Việt Nam. Nxb. Lao động, Hà Nội, tr.219-223.
  14. Nguyễn Văn Trung (1988, 2022), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.14-36.
  15. Nguyễn Văn Trung (1988, 2020), “Những vận dụng hội nhập văn hoá”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.22.
  16. Trăng Thập Tự (2022), “Lời giới thiệu”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.53.
  17. Trăng Thập Tự (2022), “Tìm phục hồi bản Quốc ngữ 1820 của Sấm truyền ca”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.37-51.

[1] Lữ Y Đoan (1670, 2020), Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 232 trang.

[2] Matthêô Nguyễn Văn Khôi (2020), “Lời giới thiệu”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.7-9.

[3] Nguyễn Văn Trung (1988, 2022), “Sấm truyền ca  của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.14-36.

[4] Lm. Trăng Thập Tự giới thiệu hai bản phiên âm Sấm truyền ca Quốc ngữ của Nguyễn Văn Nhạn và Paulus Tạo và đi đến xác lập “Bản phục chế đề nghị” mà chúng tôi duy danh là công việc “khảo dị”…

[5] Trăng Thập Tự (2022), “Tìm phục hồi bản Quốc ngữ 1820 của Sấm truyền ca”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.37-51.

 

[6] “Hàn Thuyên, nguyên họ là Nguyễn Thuyên, sống thời thịnh Trần (thế kỷ XIII), quê làng Lai Hạ, huyện Thanh Lâm, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay thuộc thôn Lai Hạ, xã Lai Hạ, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Chỉ biết ông sinh ngày 15-2, mất ngày 17-5 nhưng không rõ vào năm nào. Đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) năm 1247 dưới triều Trần Nhân Tông (1279-1293), làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hình. Tác phẩm thơ ca có Phi sa tập, hiện thất truyền”. Xin xem Đặng Thị Hảo (2004), “Nguyễn Thuyên”, Từ điển văn học (Bộ mới). Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.1190-1191.

[7] Quốc sử quán triều Hậu Lê (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II (Hoàng Văn Lâu dịch, chú). Nxb. KHXH, Hà Nội, tr.47.

[8] Xin xem Nguyễn Văn Trung (2022), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.22-35.

[9] Matthêô Nguyễn Văn Khôi (2020), “Lời giới thiệu”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.6.

[10] Nguyễn Hữu Sơn (2001), “Vịnh Vân Yên tự phú – Nẻo về thiên nhiên Phật và cõi vô tâm”, Huyền Quang – Cuộc đời, Thơ và Đạo (Trần Thị Băng Thanh chủ biên). Nxb. TP Hồ Chí Minh, tr.66-77.

[11] Nguyễn Hữu Sơn (2008), “Tác gia hoàng đế – thiền sư – thi sĩ Trần Nhân Tông”, Nghiên cứu Văn học, số 12, tr.3-21.

[12] Nguyễn Hữu Sơn (2000), “Về cảm quan Phật giáo trong thơ Nôm Nguyễn Trãi”, Tạp chí Văn học, số 6, tr.75-80.

[13] A-đam, theo Wikipedia – Bách khoa toàn thư mở: “Adam (tiếng Ả Rập: آدَم‎, chuyển tự ʾĀdam; tiếng Hebrew: אָדָם‎, chuyển tự ‘adam; tiếng Hy Lạp: Ἀδάμ, chuyển tự Adám; tiếng Latinh: Adam) là một nhân vật trong sách Sáng Thế của Kinh Cựu ước và Kinh Quran. Theo thuyết sáng tạo và các tôn giáo từ Áp-ra-ham, chàng là người đàn ông đầu tiên (…). Từ Adam cũng được sử dụng trong Kinh Thánh như một đại từ, nói riêng là “một con người” và nói chung là “loài người”… Theo chúng tôi, việc Sấm truyền ca phiên chữ Adam và âm đọc A-dang, A-dương, A-dong hay A-dan thuần tuý chỉ là biểu âm, lối phiên âm, lối đọc, đọc trại, phiên trại, hoàn toàn không dung nạp công năng biểu ý, biểu nghĩa (dương, cõi dương, âm dương)…

[14] Simong Phan Văn Cận (1820, 2022), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, Hà Nội, tr.15.

[15] Nguyễn Văn Trung (1988, 2022), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.17-23.

[16] Matthêô Nguyễn Văn Khôi (2020), “Lời giới thiệu”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.5.

[17] Trăng Thập Tự (2022), “Lời giới thiệu”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.53.

[18] Phạm Xuân Nguyên (2021), Đọc sách cùng bạn: Một truyện thơ cổ có giá trị văn hóa… Nguồn: Báo Dân Việt https://danviet.vn › Thứ ba, ngày 10/08/2021 18:05 PM (GMT+7)… Cập nhật ngày 17/7/2024.

[19] Simong Phan Văn Cận (1820, 2022), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.15.

[20] Thaddoeus Nguyễn Văn Nhạn (1956, 2020), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.18.

[21] Nguyễn Văn Trung (1988, 2022), “Những vận dụng hội nhập văn hoá”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.22.

[22] Nguyễn Văn Trung (1988, 2022), “Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670)”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu, Lm. Trăng Thập Tự khảo dị). Tư liệu Tủ sách Nước Mặn, Quy Nhơn, tr.22.

[23] Matthêô Nguyễn Văn Khôi (2020), “Lời giới thiệu”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.6.

[24] Xin xem Nguyễn Hữu Sơn (2012), “Vị thế Phùng Khắc Khoan trong bối cảnh văn hóa Đại Việt thế kỷ XVI – đầu thế kỷ XVII”, Họ Phùng Việt Nam. Nxb. Lao động, Hà Nội, tr.219-223.

 

[25] Chữ “vấn đề” trong Sấm truyền ca xuất hiện tổng số 6 lần: Mời Lộc là cháu, vấn đề đặt ra (Câu 586), Bá-lâm cung kính đặt mau vấn đề (Câu 836), Bá-lâm đồng ý vấn đề (Câu 1069), Vấn đề nghi thất nghi gia (Câu 1063), Kinh thành náo động vấn đề (Câu 1361) và riêng bản Paulus Tạo có thêm: Tích xưa cho thấy vấn đề (Câu 3599) (NHS chú).

[26] Chữ “thắng lợi” trong Sấm truyền ca xuất hiện duy nhất một lần ở Lời kết bản Paulus Tạo: Hầu coi thắng lợi về tay ông Trời (Câu 1604) (NHS chú).

[27] Trần Thanh Đạm (1993), “Về sách báo của tác giả Công giáo (Thế kỷ XVII-XIX)”, Tài liệu tham khảo. Khoa Ngữ văn – Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr.67.

 

[28] Matthêô Nguyễn Văn Khôi (2020), “Lời giới thiệu”, Sấm truyền ca (Phan Văn Cận phiên âm, Nguyễn Văn Nhạn chép tay, Matthêô Nguyễn Văn Khôi giới thiệu). Tủ sách Nước Mặn – Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.7.

[29] Xin xem Nguyễn Hữu Sơn (2005), “So sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều từ sự chuyển đổi lại hình và thể loại”, Nghiên cứu Văn học, số 11, tr.27-43.

 

* Pgs Ts Nguyễn Hữu Sơn (Học Viện Khoa học xã hội)
Tài liệu tọa đàm Sấm truyền ca (1670) của linh mục Lữ Y Đoan (1608-1678)