Vị thế Alexandre de Rhodes (1591-1660) trong sách giáo khoa “Việt Nam văn học sử yếu” của Dương Quảng Hàm (1898-1946)

29/08/2025 581 lượt xem

* Tác giả: Văn Ánh Tuyết
Tọa đàm “Cha Đắc Lộ và chân phước Anrê Phú Yên”

 

Học giả, Nhà giáo Dương Quảng Hàm (1898-1946) sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học tại làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang (nay thuộc xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên). Thuở nhỏ ông học chữ Nho, sau ra Hà Nội học chữ Quốc ngữ, năm 1920 tốt nghiệp thủ khoa trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Từ năm 1920 – 1946, ông làm giáo viên ở trường Bưởi (tức trường Trung học Bảo hộ, tiền thân của trường Chu Văn An ngày nay), vừa giảng dạy vừa viết sách giáo khoa văn học và sử học cho nhà trường từ bậc tiểu học cho đến trung học bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Sau năm 1945, ông được bổ nhiệm làm Tổng Thanh tra Trung học vụ, rồi làm Hiệu trưởng của trường Bưởi. Dương Quảng Hàm hy sinh khi còn đang tại chức vào những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, khoảng những ngày cuối năm 1946, khi mới 48 tuổi.

Có lẽ khi nói đến Dương Quảng Hàm không chỉ người đương thời mà hậu thế đều thán phục và đánh giá cao về kiến thức sâu rộng của ông đồng thời cũng công nhận sự đóng góp to lớn của ông trong các lĩnh vực giáo dục, lịch sử, văn hóa và xã hội. Ngoài ra, ông còn được đề cao là một Nho sĩ yêu nước, là một tấm gương của nhà mô phạm, một người thầy gương mẫu, chuẩn mực từ cách ăn mặc, nói năng đến mối quan hệ với học trò, nhất nhất đều theo quan niệm chữ Lễ của Khổng học. Ông còn được tôn vinh là một Nho sĩ yêu nước, một nhà giáo, một người thầy mẫu mực, là người có công đào tạo hàng nghìn học trò trong một phần tư thế kỷ và chắc hẳn trong số đó cũng không ít người trở thành người hiền tài góp sức cho xã hội, cho đất nước lúc bấy giờ và là người đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ học trò của mình theo nghề sư phạm.

Với tài năng và kiến thức uyên bác của mình, Dương Quảng Hàm đã để lại những tư liệu có giá trị nghiên cứu cho xã hội đương thời và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay, đó là kho tàng kiến thức quí giá cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy và học sinh, sinh viên. Qua thời gian dài chuyên tâm với nghề dạy học, đồng thời tích cực tham gia soạn thảo các loại sách giảng lịch sử và giáo khoa Việt văn bậc Cao đẳng Tiểu học, ám tả đề thi tiểu học, tuyển văn chương tiếng Pháp về Đông Dương, tìm hiểu các tác gia Lý Văn Phức (1785-1849), Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) và cộng tác dịch thuật, viết bài phổ cập tri thức trên nhiều báo, tạp chí tiếng Việt và Pháp…, Dương Quảng Hàm đã đúc kết kinh nghiệm và tiến tới hoàn thành bộ sách giáo khoa đại thành Việt Nam văn học sử yếu (Nha Học chính Đông Pháp xuất bản, Hà Nội, 1943)[1].

Với công trình sách giáo khoa Việt Nam văn học sử yếu, Dương Quảng Hàm biên soạn, nghiên cứu rất nhiều vấn đề, trong đó ông có giới thiệu công phu về Alexander de Rhodes (1593-1660)[2] là người có công nhất trong việc sáng lập ra chữ Quốc ngữ[3]. Trong chương dẫn đầu, Dương Quảng Hàm nêu vấn đề “Ảnh hưởng của người Pháp” và khái quát: “Dân tộc ta chịu ảnh hưởng duy nhất của người Tàu mãi đến thế kỷ thứ XVII là lúc những người châu Âu sang nước ta hoặc để buôn bán, hoặc để truyền giáo, trong số các giáo sĩ, phải kể ông cố đạo người Pháp tên là Alexandre de Rhodes là người thông thạo ngôn ngữ, phong tục, lịch sử của nước ta lắm. Các giáo sĩ ấy đã mượn những tự mẫu La Mã đặt ra một thứ chữ để viết tiếng ta một cách giản tiện: tức là chữ Quốc ngữ. Nhờ có sự sáng tác ấy, dân ta có một thứ chữ có quy củ để viết tiếng Nam và cũng nhờ đó mà nền quốc văn gần đây mới thành lập được. Bởi thế ta phải xét vấn đề đó trong chương thứ XVII”; đồng thời đến thiên 5- “Ảnh hưởng của người Pháp”, chương 18- “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ”, ông tiếp tục nhấn mạnh tiến trình lịch sử chữ viết: “Như bài dẫn đầu đã nói, nước ta xưa kia chỉ tiếp xúc với các dân tộc lân cận, về phía nam các dân tộc theo văn hóa Ấn Độ (Chiêm Thành, Chân Lạp) và thứ nhất là về phía bắc với dân tộc Trung Hoa, nên ảnh hưởng của văn hóa Tàu đối với dân ta rất là sâu xa. Mãi đến thế kỷ thứ XVII, người Châu Âu bắt đầu tràn sang Á Đông, nhân đó mà cái văn minh Âu Tây cũng dần dần tiêm nhiễm vào nước ta. Một việc sẽ có ảnh hưởng lớn đến nền văn học nước ta sau này là việc sáng tác chữ quốc ngữ do các giáo sĩ người Âu đặt ra. Vậy ta phải xét vấn đề ấy trong chương này”[4]…

Với sách Việt Nam văn học sử yếu, trên căn bản hệ thống tư liệu lịch sử, Dương Quảng Hàm nhấn mạnh cơ sở lịch sử văn hóa, xã hội, lược tả quá trình các giáo sĩ vào nước ta; sự phát triển các giáo đoàn trong thế kỷ thứ XVI – XVIII với vai trò đặc biệt của Giáo đoàn Đàng Trong (Mission de la Conchichine) do có Fracesco Busomi lập ra năm 1615 và Giáo đoàn Đàng Ngoài (Mission du Tonkin) do có Alexandre de Rhodes lập ra năm 1627; đánh giá thực chất sự cấm đạo: “Vì quan niệm về tôn giáo khác nhau, nên các vua chúa nước ta, cả chúa Nguyễn và chúa Trịnh, tuy lúc đầu có dung thứ, nhưng sau đều cấm việc truyền đạo Thiên Chúa và nghiêm trị các giáo sĩ cùng các giáo đồ. Tuy thế mặc lòng, các giáo sĩ vẫn lén vào trong nước và đi truyền đạo mà số người theo đạo cũng càng ngày càng đông”[5]…

Trên cơ sở nguồn tư liệu chuẩn của học giả Phạm Quỳnh (1892-1945) đã công bố từ 15 năm trước đó[6], Dương Quảng Hàm chú trọng tổng thuật tiểu sử người có công nâng cấp, tổng kết, hoàn chỉnh và thúc đẩy sự phát triển chữ quốc ngữ lên tầm cao mới: “Có Alexandre de Rhodes (1591-1660) – Ông người đất Avignon (nay thuộc nước Pháp) và thuộc Dòng Tên. Cuối năm 1624, ông được cử sang sung vào Giáo đoàn Đàng Trong. Trong sáu tháng trời, ông học tiếng Nam và nói được rất sõi… Vì thế, ông được cử ra Đàng Ngoài lập một Giáo đoàn mới, ông ở đây hơn ba năm tự năm 1627 đến năm 1630, dụ được nhiều giáo đồ. Sau bị chúa Trịnh (Trịnh Tráng) đuổi, ông sang ở Macao nhưng hễ có dịp, ông lại sang nước ta, cứ đi đi lại lại mấy lần. Đến năm 1645, ông phải dời nước ta hẳn trở về châu Âu… Trong hơn bảy năm trời ông ở nước Nam, ông nghiên cứu phong tục, tính tình, lịch sử người Nam rất là am tường. Ông viết nhiều sách có giá trị như cuốc sử xứ Bắc kỳ bằng chữ La-tinh có dịch ra chữ Pháp, cuốn tự điển tiếng Nam dịch ra tiếng Bồ Đào Nha và tiếng La-tinh (sẽ nói rõ ở mục sau) và cuốn sách giảng đạo nhan là Phép giáng tám ngày cho kẻ “muấn” (muốn) chịu phép “rửa toi” (rửa tội) ma “beào” (vào) đạo thánh đức Chúa “blời” (trời) (Xem bài đọc thêm số 1)”[7]…

Liên quan trực tiếp đến việc học tiếng Việt và quá trình soạn từ điển, A. Rhodes kể lại: “Khi tôi vừa đến Đàng Trong và nghe người dân bản xứ nói, đặc biệt là phụ nữ, tôi có cảm tưởng mình đang nghe chim hót líu lo, và tôi đâm ra ngã lòng, vì nghĩ rằng, có lẽ không bao giờ mình học nói được một ngôn ngữ như thế. Thêm vào đó, tôi thấy hai cha Emmanuel Fernandez và Buzomi, khi giảng, phải có người thông dịch lại. Chỉ có cha Francois Pina là hiểu và nói được tiếng Việt, nên các bài giảng của cha Pina thường đem lại nhiều lợi ích hơn là của hai cha Fernandez và Buzomi. Do đó tôi tự ép buộc mình phải dồn mọi khả năng để học cho được tiếng Việt… Tuy nhiên trong công cuộc này, ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm, thời gian mà tôi lưu trú tại hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài, thì ngay từ đầu tôi đã học với cha Francisco de Pina người Bồ Đào Nha, thuộc Hội dòng Chúa Giêsu [Dòng Tên], là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng ngôn ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều cha khác cùng Hội dòng, nhất là của cha Gaspar do Amaral và cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam [từ điển Việt – Bồ], ông sau bằng tiếng Bồ Đào [từ điển Bồ – Việt], nhưng cả hai ông đều đã chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng Latinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn”[8]…

Từ đây Dương Quảng Hàm đặt vấn đề, nêu câu hỏi ở đề mục “Việc sáng tác chữ quốc ngữ?” và giảng giải cụ thể, chi tiết trước hết ở phạm vi sáng tạo chữ: “A) Chữ quốc ngữ là gì? – Chữ quốc ngữ là một thứ chữ dùng tự mẫu (chữ cái) La mã đề phiên âm tiếng An-Nam. Quốc ngữ nghĩa đen là tiếng nói của nước: vậy cái từ ngữ ấy dùng gọi thứ chữ mới đặt ra đây, kể thì không đúng, vì đó là một thứ chữ chứ không phải là một thứ tiếng, nhưng từ ngữ ấy đã dùng quen rồi, không thể đổi được nữa”; tiếp đến là vai trò chủ thể, chủ nhân của việc đặt ra chữ quôc ngữ cũng với cách nhân mạnh phản vấn ấn tượng: “B) Ai đặt ra chữ quốc ngữ? – Các giáo sĩ người Âu, khi đến nước ta truyền giáo về thế kỷ thứ XVII, thấy ở xứ ta chỉ có chữ Nôm là thứ chữ dùng để viết tiếng Nam như chưa có chuẩn đích, và học lại mất nhiều công phu, nên mới mượn các mẫu tự La Mã đặt ra chữ quốc ngữ để tiện việc dịch sách, soạn sách cho con chiên xem… Việc sáng tác chữ quốc ngữ chắc là một công cuộc chung của nhiều người, trong đó có cả các giáo sĩ người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp Lan Tây. Nhưng người có công nhất trong việc ấy là cố Alexandre de Rhodes vì chính ông là người đầu tiên đem in những sách bằng chữ quốc ngữ, thứ nhất là một cuốn tự điển, khiến cho người sau có tài liệu mà học và kê cứu (xem bài đọc thêm số 2). Vậy ta phải xét về cuốn tự điền của ông đã soạn ra”[9]… Như vậy, Dương Quảng Hàm xác định rõ mầm mống quá trình hình thành chữ quốc ngữ, nêu rõ đóng góp của thế hệ đi trước rồi mới đến nhấn mạnh vai trò đặc biệt của A. Rhodes.

Khi nhấn mạnh vai trò đặc biệt của A. Rhodes, Dương Quảng Hàm dẫn giải, xác chứng bằng hệ thống tư liệu: “C) Cuốn tự điển của cố Alexandre de Rhodes – Cuốn ấy chính nhan là Dictionarium Annamiticum, Lusitanum et Latinum (nghĩa là Từ điển An Nam, Bồ Đào Nha và La-tinh) in ở La Mã (Rome) năm 1651; khi in cuốn ấy, nhà in của Giáo hội thành La Mã đúc chữ quốc ngữ lần đầu tiên”, đi sâu và tham cứu ba công trình khảo luận bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp: 1) Charles B. Maybon, Histoire moderne du Pays d’annam (1592-1820) Étude sur lespremiers rapports des Européens et des Annamites et sur l’établisment de la dynastie annamite des Nguyễn (Lịch sử hiện đại của đất nước An Nam (1592-1820) Nghiên cứu về những báo cáo đầu tiên giữa người châu Âu và người An Nam và về sự thành lập triều đại An Nam của nhà Nguyễn). Paris Plon – Nourrit et Cie, 1919 (Chapitre II. p27-50); 2) Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Hanoi, Imp. Du Trung Bắc tân văn, 1920, Tập thứ nhì, Chương VII, tr.79-84); 3) Phạm Quỳnh, Khảo về chữ quốc ngữ, Nam Phong tạp chí, I, XXI, số 122, tr.327-329,… từ đó đi sâu phân tích, giảng giải cho người học hiểu rõ căn cơ:

“1) Theo bài tựa của tác giả thì các nguyên thư tác giả đã xem để làm cuốn ấy là:

a) Tự vựng An Nam – Bồ Đào Nha của cố Gaspar de Amaral, người Bồ Đào Nha.

b) Tự vựng Bồ Đào Nha – An Nam của cố Antoine de Barbosa, người Bồ Đào Nha. Hai cuốn này đều viết bằng tay và nay không còn truyền lại nữa.

2) Cuốn ấy chia làm ba phần:

a) Tự điển;

b) Mục lục để tra bằng tiếng La-tinh;

c) Phần giảng qua về mẹo tiếng An Nam”;

tiếp đó đi vào minh chứng, minh họa, thí dụ cụ thể, chi tiết, xác thực, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp lứa tuổi học đường:

“3) Theo cuốn tự điển ấy thì âm vận tiếng ta và cách viết chữ quốc ngữ hồi ấy (giữa thế kỷ thứ XVII) có khác ngày nay ít nhiều.

a) Về âm vận tiếng ta, ta nhận thấy:

1.- Có vài âm khác nhau

Phụ âm b ngày xưa nay đọc ra v.

Thí dụ: bua = vua; bó ngựa = vó ngựa.

Phụ âm d ngày xưa nay đọc ra nh.

Thí dụ: dè dẹ = nhè nhẹ.

2.- Có vài phụ âm mất hẳn

Phụ âm bl hay đổi làm gi. Thí dụ: dối blá = dối giá; blả ơn = giả ơn;

Thí dụ: tàu blúc blắc = tàu lúc lắc.

Thí dụ: blái núi = trái núi; blổ tài = trổ tài.

Phụ âm ml hoặc mnh nay đổi làm l hoặc nh. Thí dụ: Chém một mlát = chém một lát (nhát); mlẽ, mnhẽ = lẽ, nhẽ; mlời, mnhời = lời, nhời.

Phụ âm tl nay đổi làm tr. Thí dụ: ăn tiôm = ăn trộm, tlăm con tlâu = trăm con trâu.

b) về cách viết chữ quốc ngữ, ta nhận thấy vài cách viết khác bây giờ:

ão (xưa) = ong (nay). Thí dụ são = song; chào = chòng; tlao = trong.

âu (xưa) = ông (nay). Thí dụ: cou = công; sòu = sống; tião = trông.

Ũ (xưa) = ung (nay). Thí dụ: cũ = cung;

uân (xưa) = uôn (nay). Thí dụ: muấn = muốn;

uâng (xưa) = uông (nay). Thí dụ: huáng = huống;

ưâng (xưa) = ương (nay). Thí dụ: từâng = tường;

nhừâng = nhường; xưâng = xương, v.v…

Cuốn tự điển của cố Alexandre de Rhodes không những là một bằng chứng để ta khảo cứu âm vận tiếng ta và hình thể chữ quốc ngữ về tiền bán thế kỷ thứ XVII, mà lại là một cuốn sách gốc để các nhà ngữ học về sau kê cứu mà làm các tự điển khác về tiếng ta”; cuối cùng Dương Quảng Hàm đi đến kết luận: “Các giáo sĩ người Âu đặt ra chữ quốc ngữ, chủ ý là có được một thứ chữ để viết tiếng ta cho tiện và dùng trong việc truyền giáo cho dễ. Không ngờ rằng, vì tình thế lịch sử xui nên, thứ chữ ấy nay thành thứ văn tự phổ thông của cả dân tộc Việt Nam ta.

Cũng như đã nói đoạn trên Các giáo sĩ người Âu đặt ra chữ quốc ngữ, chủ ý là có được một thứ chữ để viết tiếng ta cho tiện và dùng trong việc truyền giáo cho dễ. Không ngờ rằng, vì tình thế lịch sử xui nên, thứ chữ ấy nay thành thứ văn tự phổ thông của cả dân tộc Việt Nam ta. Và cũng chính nhờ công ơn của các Cố giáo sĩ mà cả dân tộc ta có được chữ  viết rất hay và độc đáo không có một chữ viết nào, một thứ tiếng của nước nào mà đánh vần được như chữ Quốc Ngữ của Ta và cũng không có chữ viết nào có 6 thanh điệu như chữ viết của Ta vậy! Đây là nét độc đáo riêng như Cố A. Rhodes kể lại: “Khi tôi vừa đến Đàng Trong và nghe người dân bản xứ nói, đặc biệt là phụ nữ, tôi có cảm tưởng mình đang nghe chim hót líu lo.

Cũng đành rằng như các công trình do người ta sáng tác ra, thứ chữ ấy cũng còn có một vài khuyết điểm, nhưng ta nên nhận rằng ở trên hoàn cầu này, không có thứ chữ nào tiện lợi và dễ học, dễ biết bằng thứ chữ ấy”[10]…

Từ giảng giải cho đến kết luận, nhà giáo viết sách giáo khoa Dương Quảng Hàm đã nhấn mạnh thực tế lịch sử chữ quốc ngữ từ vị thế truyền giáo đã đóng vai trò phổ cập ngôn ngữ toàn dân, toàn quốc, có ý nghĩa mở đường, vạch thời đại từ lối chữ biểu hình tới biểu âm, hội nhập vào xu thế hiện đại toàn thế giới.

Tiếp đến trong mục “Các bài đọc thêm”, Dương Quảng Hàm đã trích dẫn tác phẩm Phép giảng tám ngày – Ngày thứ nhít (nhất) của A. Rhodes với chú nguồn tường minh, đầy đủ: “Trích trong sách Phép giảng tám ngày… của cố Alexandre de Rhodes in ở thành La Mã năm 1651 – Theo bản lục đăng trong bài Khảo về chữ quốc ngữ… N.P., t.XXI, số 122” và hướng dẫn cụ thể, chi tiết “Trong bài này, những chữ gạch dưới là chưa theo cách viết ngày nay” và thêm chữ trong dấu đơn (…) là chữ hiện đại thường dùng: “Phép giảng tám ngày – Ngày thứ nhít (nhất). Tà cầu cũ (cùng) đức chúa blời (trời) giúp sức cho ta biết tỏ từâng (tường) đạo chúa là nhuầng (nhường) nào, vì bậy (vậy) ta phải ăn ở thế này chẳng có ai sốu (sống) lâu, vì chưng kẻ đến bảy tám mười tuẩi (tuổi) chẳng có nhèo (nhiều). Vì bây (vậy) ta nên tìm đàng nào cho được sóũ (sống) lâu, là kíem (kiếm) đàng sốu (sống) bậy (vậy); thật là việc người cuên (quân) tử khác phép thế gian này, dù mà làm cho người được phú quí são (song) le chẳng làm được cho ta ngày sau khỏi làm tiểu-nhin (nhân) khốn nạn. Vì bậy (vậy) ta chẳng phải hạoc (học) đạo cho ta được phú quí ở thế này. Vì chưng ích đạo thánh đức chúa blời (trời) về đời sau. Người thế sự đời này lành dữ thì hay, mlẽ (lẽ) qua đời này cho khi chết được bụi bẻ (vui vẻ) đời sau thì chàng hay. Cho được biết đàng ếy (ấy), trưắc (trước) thì phải hay loại người ta có hai sự: một là xác, hai là linh hồn, xác bởi cha mẹ mà có xưâng (xương), có máu, có thịt, hay nát hay mòn, saõ (song) le linh hồn là tính thiêng chẳng hay mòn, chẳng hay nát, chàng hay chết, chàng phải bởi cha mẹ mà ra, thật bởi bề blên (trên) mà có. Linh hồn như chúa nhà, xác như tôi tá hay là đầi (đầy) tớ vô thì phải phục linh hồn như chúa, vì chưng đầi (đầy) tớ cũ (cùng) tôi tá làm chúa nhà hay là chúa nhà làm tôi tá, thì lộn lạo cũ (cũng) chẳng phải mlẽ (lẽ)… Saõ (song) ta xét ta lo tlước (trước) cho đầi (đầy) tớ, hay là cho chúa nhà? Thật là ta làm tlước (trước) cho chúa nhà, sau lo cho đầi (đầy) tớ thì mới phải. Cày ruộng, buôn bán, những việc thể ếy (ấy) là việc về xác. Có kẻ đi cầy đi cấy mà được lúa nhềo (nhiều) tlão (trong) kho, đến khi qua đời này một nhám lúa đam (đem) đi cũ (cũng) chăng được. Có kẻ đi hầu hạ chầu chức bua (vua) chúa mà được làm quan. Đến khi linh hồn ra khỏi xác, những sự ếy (ấy) thì phải bỏ, đem về chàng được đi gì sốt. Có mlời (lời) rằng: khi sinh ra chàng có đam (đem) một đòũ (đồng) mà lại chết cũ (cũng) chàng có cầm một dòũ (đồng) mà đi. Vì chưng người ta ở thế này chẳng ai khỏi sự ếy (ấy), thì phải haọc (học) đạo thành về đời sau, cho ngày sau chúng ta được sốũ (sống) lâu vô cũ (cùng)”[11].

Tiếp đến soạn giảng mục “Vấn đề sáng tác chữ quốc ngữ”, Dương Quảng Hàm dẫn ý kiến một nhà sử học uy tín người Pháp: “Thuộc về vấn đề cỗi rễ chữ quốc ngữ, nhà sử học Maybon[12] thuật lịch sử của cố A. Rhodes rồi, có phán đoán như sau này: “… cách dịch âm ấy là do các cố đạo Tây chế ra, điều đó đã chắc hẳn rồi, nhưng người nào là người chế ra đầu tiên thì khó mà biết được. Thiên hạ cứ quen miệng nói là chính các cố đạo người Bồ Đào Nha đặt ra chữ quốc ngữ, có lẽ cái ý kiến đó cũng là một điều trong vô số điều sai lầm mà ở Đông Pháp thiên hạ cứ theo nhau mà truyền đi không xem xét cho kỹ. Vì sở dĩ thành ra cái ý kiến đó là bởi thấy trong lối dịch âm của chữ quốc ngữ có nhiều vần đọc giống như vần tiếng Bồ Đào. Nhưng phải biết rằng tiếng Bồ Đào là tiếng thông thương chung của các người Tây giao thiệp với người An Nam tự thế kỷ thứ 17. Không những nhà buôn các nước cùng những thông ngôn của họ gọi là Jurabas thông dụng thứ tiếng ấy, mà các cố đạo cũng dùng, cố đạo Bồ Đào thì đã cố nhiên rồi, nhưng cả cố đạo Y Pha Nho, Ý Đại Lợi hay Pháp Lan Tây nữa. Như vậy thì tiếng Bồ Đào có ảnh hưởng trong việc chế tác ra chữ quốc ngữ, điều đó thật không lấy gì làm lạ. Vậy thời nếu cứ theo ý kiến thông thường mà cho chữ quốc ngữ là tự các cố Bồ Đào chế ra, thật không lấy gì làm bằng cứ vậy. Chữ quốc ngữ chắc là do nhiều người cùng nhau nghĩ đặt ra, chứ không phải một người Bồ Đào mà thôi. Có một điều đích hẳn, là khi nhà in ở Âu châu – đây là sở in của Hội Truyền giáo ở La Mã, do Giáo hoàng Urbain thứ XIII lập ra năm 1627 có đủ thứ chữ các nước – mới bắt đầu đúc chữ quốc ngữ, thì là chủ ý để in các sách của một ông cố người Pháp”[13]… Nhận định này cho thấy sự thật “tiếng Bồ Đào là tiếng thông thương chung của các người Tây giao thiệp với người An Nam tự thế kỷ thứ 17” chứ không phải riêng công việc truyền giáo, đồng thời là sự tìm tòi, góp sức của cả tập thể học giới nhiều nước mà góp công đầu là các nhà truyền giáo: “… cố đạo Bồ Đào thì đã cố nhiên rồi, nhưng cả cố đạo Y Pha Nho, Ý Đại Lợi hay Pháp Lan Tây” và vai trò đặc biệt của việc “mới bắt đầu đúc chữ quốc ngữ, thì là chủ ý để in các sách của một ông cố người Pháp” mà “ông cố người Pháp” đây chính là A. Rhodes.

Tổng kết lại, Dương Quảng Hàm xác định cội nguồn lịch sử hình thành chữ quốc ngữ và vai trò tổng thành của A. Rhodes: “Nói tóm lại thì chữ quốc ngữ là do các cố Tây sang giảng đạo bên nước Nam đặt ra vào đầu thế kỷ thứ 17, các cố đó người Bồ Đào có, người Ý Đại Lợi có, người Pháp Lan Tây có, chắc là cùng nhau nghĩ đặt, châm chước, sửa sang trong lâu năm, chứ không phải một người nào làm ra một mình vậy. Duy đến khi in ra thành sách thì là một ông cố người nước Pháp Alexandre de Rhodes, in một bộ tự điển và một bộ sách giảng đạo bằng chữ quốc ngữ trước nhất. Vậy thời hai bộ sách đó là hai quyển sách quốc ngữ cổ nhất còn lưu truyền đến nay”[14]…

Rất cần nói thêm, cùng với đóng góp của chương 18- “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ” trong tổng thành giá trị bộ giáo sách khoa thư Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm đã được học giới đánh giá cao như ý kiến của Trần Hữu Tá: “Phương pháp nghiên cứu tuy chưa thật khoa học, nhưng vấn đề đặt ra được giải quyết rành mạch, thỏa đáng. Tư liêu tập hợp khá phong phú và chính xác. Công trình này đã góp phần tích cực vào việc phát huy và bảo tồn những văn hóa của dân tọc Việt” và Hữu Ngọc: “Cấu trúc tác phẩm này rất logic và sáng sủa. Việc xử lý tư liệu rất khoa học, bố cục chặt chẽ, lập luận vững chắc. Dựa vào văn bản: lời văn trong sáng, khúc chiết và giản dị (khác hẳn với biền ngẫu dài dòng của các thế hệ nho gia trước), chứng tỏ Dương Quảng Hàm là một nho sĩ đã nắm được phương pháp của môn lịch sử văn học hiện đại… Đặc biệt ông rất chú ý những đặc sắc của ta (thể loại, thi pháp, nhất là ngôn ngữ, văn thơ, văn Nôm…). Trong từng thời kỳ lịch sử (từ Lê – Mạc), ông trình bày cả văn chương Hán và Nôm. Mấy chương về văn học cận – hiện đại thể hiện tinh thần rất cởi mở”[15]… Như vậy, đã có thể nói đến tinh thần dân tộc, khai phóng và hiện đại trong công trình biên soạn giáo khoa thư Việt Nam văn học sử yếu, trong đó có trường hợp A. Rhodes và vấn đềsáng tạo chữ Quốc ngữ ghi âm tiếng Việt.

Kết luận

Đã trải qua hơn 80 năm, công trình biên soạn giáo khoa thư Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm vẫn thể hiện đầy đủ các giá trị về nội dung, cấu trúc và hình thức thể hiện. Nói riêng về vấn đề “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ”, Dương Quảng Hàm đã bao quát đầy đủ những tư liệu cơ bản nhất và thực hiện phân tích, giảng giải, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, sáng rõ, được học giới, xã hội và nhà trường đánh giá cao, phát huy trong hoạt động giáo dục nối dài suốt từ khi ra đời (1943) đến ngày nay. Qua hơn 80 năm, vấn đề “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ” đã trở thành tri thức chung cho mọi người dân Việt Nam và còn tiếp tục được khẳng định, tỏa sáng, phát huy tác dụng, ý nghĩa lâu dài.

 

[1] Xin xem Wikipedia: Dương Quảng Hàm… https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_Qu%E1%BA%A3… Cập nhật ngày 16/5/2025.

[2] Có nguồn tài liệu ghi A. Rhodes sinh năm 1591…

[3] Xin xem Wikipedia: Alexandre de Rhodes… https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes… Cập nhật ngày 16/6/2025.

[4] Dương Quảng Hàm (1968), “Chương dẫn đầu”, Việt Nam văn học sử yếu, Tái bản. Bộ Giáo dục – Trung tâm Học liệu xuất bản, Sài Gòn, tr.9.

[5] Dương Quảng Hàm (1968), “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ”, Việt Nam văn học sử yếu, Tái bản. Sđd, tr.105.

[6] Phạm Quỳnh (1927), Khảo về chữ Quốc. Nam Phong tạp chí, số 122, tháng 10, tr.327-339.

[7] Dương Quảng Hàm (1968), “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ”, Việt Nam văn học sử yếu, Tái bản. Sđd, tr.105.

[8] Xin xem Wikipedia: Alexandre de Rhodes… https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes… Cập nhật ngày 16/6/2025.

[9] Dương Quảng Hàm (1968), “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ”, Việt Nam văn học sử yếu, Tái bản. Sđd, tr.106.

[10] Dương Quảng Hàm (1968), “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ”, Việt Nam văn học sử yếu, Tái bản. Sđd, tr.106-107.

[11] Dương Quảng Hàm (1968), “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ”, Việt Nam văn học sử yếu, Tái bản. Sđd, tr.108.

[12] Maybon: Họ tên đầy đủ là Charles B. Maybon (1872-1926), nhà sử học người Pháp, từng nhiều năm làm việc và viết sách về Việt Nam, trong đó đã được in một phần trong sách Những người châu Âu ở nước An Nam (Nguyễn Thừa Hỷ dịch). Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2011, 258 trang.

[13] Dương Quảng Hàm (1968), “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ”, Việt Nam văn học sử yếu, Tái bản. Sđd, tr.108-109.

[14] Dương Quảng Hàm (1968), “Các giáo sĩ – Cố Alexandre de Rhodes – Việc sáng tác chữ Quốc ngữ”, Việt Nam văn học sử yếu, Tái bản. Sđd, tr.109.

[15] Xin xem Wikipedia: Dương Quảng Hàm… https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C6%B0%C6%A1ng_Qu%E1%BA%A3… Cập nhật ngày 16/5/2025.